DIEU-TRI-NOI-KHOA.COM

  • Home
  • Lich su YKDH Sai Gon
  • NGUONG BMI DE DINH BENH BEO PHI O VN
  • NHUNG DANG HIEN LANG LE
  • nhin-lai-YKDH-sai-gon
  • UNG THU CO TU CUNG I
  • UNG THU CO TU CUNG II
  • Nha Toan hoc NGO BAO CHAU se la GS UChicago
  • RUNG MINH KHI NGHI DEN BENH VIEN VN
  • Growth of aid and the decline of humanitarianism
  • THAO LUAN DIEU TRI 1 CAS GIAI PHAU O VN
  • nhat-thuc-hinh nhan-cua-thien-ky
  • Xu Tri Cap Cuu tai bien nhiem SIDA
  • Dieu Tri Tang HA-thuoc CU hay MOI
  • Xet duyet chuc danh GS-Noi the chu khong phai the
  • Hen phe quan o tre em-Chan doan-Dieu tri-Theo doi
  • hen-phe-quan-va-nhiem the 17
  • Tan man ve Te Bao Goc - Stem Cells
  • Cum A-H1N1 Cas bien chung dau tien do chung ngua
  • Tan Bo truong Y te Duc quoc va thu thach dau tien
  • MAT DO dinh-benh-dieu-tri
  • Dieu tri benh PHI DAI LANH TINH TIEN LIET TUYEN
  • Nguoi NANG NHAT THE GIOI 445 Kilo
  • dieu-tri-benh-loang-xuong-osteoporosis
  • Vaccine phong chong HIV hieu qua den dau
  • MRI trong danh gia thieu mau va song con co tim
  • Dieu tri BENH PHOI TAC NGHEN MAN TINH
  • Dieu tri SUY HO HAP CAP TINH A-H1N1
  • VACCINE PHONG CHONG CUM A-H1N1 cua TQ
  • SOT XUAT HUYET - Dengue Hemmorrhagic Fever
  • Dieu tri benh cao huyet ap nguyen phat
  • MRI va SIEU AM gop phan cach mang dieu tri BUOU
  • Tong ket cac truong hop ong vo ve dot-BV Cho ray
  • Nghien cuu Y-khoa SUY THAN CAP SAU NGO DOC MAT CA
  • su-dung-va-theo-doi-thuoc-ngua-thai-estroprogesta
  • Dieu tri buou xo tu cung
  • Hy vong moi trong dieu tri tieu duong type 1
  • Bep phi-Hoi chung bien duong va Tieu duong
  • Dieu Tri va Theo Doi Benh tieu duong loai 2
  • 31 thang 5-Ngay Quoc Te KHONG THUOC LA
  • CUM HEO
  • A-H1N1 -Trieu-chung-_Phong-chong--1-cas-benh
  • Hinh vui-canh bien Marseille va bien Dia Trung Hai
  • Hinh vui-canh tuyet Marseille-JAN 2009
  • Links Websites khac


 

Điều trị tăng huyết áp: thuốc “cũ” hay thuốc “mới” ?

ThS BS Hồ Huỳnh Quang Trí - Viện Tim Thành phố Hồ Chí Minh

-------------------------------------------------------------------------------------

 

 

MỞ ĐẦU

Từ lâu y giới đã biết tăng huyết áp là một yếu tố nguy cơ quan trọng của đột quị và tai biến động mạch vành (ĐMV). Một phân tích gộp số liệu của 9 nghiên cứu quan sát tiền cứu (tổng cộng 420.000 bệnh nhân được theo dõi trung bình 10 năm) cho thấy ứng với một mức chênh lệch kéo dài của huyết áp tâm trương là 5 – 6 mm Hg, nguy cơ đột quị giảm 35 – 40% và nguy cơ tai biến ĐMV giảm 20 – 25% (1). Trong số những thuốc đầu tiên được dùng để điều trị tăng huyết áp có 2 nhóm thuốc chẹn thụ thể bêta và lợi tiểu là những thuốc hiện nay vẫn còn được dùng. Nhiều thử nghiệm lâm sàng trong thập niên 1980 cho thấy 2 nhóm thuốc này giảm nguy cơ bị các biến cố tim mạch nặng ở người bệnh tăng huyết áp, tuy nhiên đa số các thử nghiệm lâm sàng này có qui mô tương đối nhỏ. Năm 1990 Collins và CS thực hiện một phân tích gộp số liệu của 14 thử nghiệm lâm sàng phân nhóm ngẫu nhiên nhằm đánh giá lợi ích của thuốc hạ huyết áp (lợi tiểu và/hoặc chẹn bêta) so với placebo ở người bệnh tăng huyết áp. Tổng cộng có 37.000 bệnh nhân được theo dõi trung bình 5 năm. Kết quả phân tích gộp cho thấy khi hạ huyết áp tâm trương 5 – 6 mm Hg nguy cơ đột quị giảm 42% và nguy cơ tai biến ĐMV giảm 14% (2). Như vậy, nếu so sánh kết quả của thử nghiệm lâm sàng với kết quả của nghiên cứu quan sát ta có thể thấy là điều trị tăng huyết áp bằng thuốc lợi tiểu và/hoặc chẹn bêta giảm nguy cơ đột quị gần đúng như dự đoán nhưng lại giảm nguy cơ tai biến ĐMV thấp hơn khá nhiều so với dự đoán (14% so với 20 – 25%). Để giải thích vì sao điều trị tăng huyết áp bằng thuốc lợi tiểu và chẹn bêta không giảm nguy cơ tai biến ĐMV như dự đoán, một số tác giả đưa ra giả thuyết là các thuốc này tuy hạ huyết áp nhưng lại có những tác dụng phụ làm giảm đi lợi ích của việc hạ huyết áp như gây rối loạn chuyển hóa lipid và đề kháng insulin (là những yếu tố thúc đẩy xơ vữa động mạch) và hạ K, Mg/máu (là những yếu tố thúc đẩy các rối loạn nhịp nguy hiểm) (3). Về sau này xuất hiện nhiều nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp mới như thuốc chẹn canxi, thuốc ức chế men chuyển và gần đây nhất là thuốc chẹn thụ thể angiotensin II. Một câu hỏi được nhiều nhà chuyên môn đặt ra là liệu các thuốc hạ huyết áp “mới” (chẹn canxi, ức chế men chuyển, chẹn thụ thể angiotensin II) có hiệu quả giảm các biến cố tim mạch, đặc biệt là tai biến ĐMV, cao hơn các thuốc hạ huyết áp “cũ” (chẹn bêta, lợi tiểu) hay không ?

NHỮNG NGHIÊN CỨU ĐẦU TIÊN SO SÁNH THUỐC “MỚI” VỚI THUỐC “CŨ”

Nghiên cứu đầu tiên so sánh một thuốc “mới” với chẹn bêta/lợi tiểu trong điều trị tăng huyết áp là nghiên cứu CAPPP (Captopril Prevention Project) (4). CAPPP là một thử nghiệm lâm sàng phân nhóm ngẫu nhiên trên 10985 bệnh nhân tăng huyết áp (tâm trương ≥ 100 mm Hg) có tuổi trung bình 52,5. Bệnh nhân được phân ngẫu nhiên cho dùng captopril hoặc thuốc chẹn bêta (atenolol, metoprolol) ± lợi tiểu (hydrochlorothiazide, bendrofluazide) và theo dõi trung bình 6,1 năm. Tiêu chí đánh giá (TCĐG) chính là phối hợp các biến cố nhồi máu cơ tim (NMCT), đột quị và chết do nguyên nhân tim mạch. Kết quả CAPPP cho thấy tần suất các biến cố thuộc TCĐG chính của 2 nhóm captopril và chẹn bêta/lợi tiểu tương đương, tuy nhiên tần suất biến cố đột quị xét riêng của nhóm captopril cao hơn có ý nghĩa (p = 0,044) so với nhóm chẹn bêta/lợi tiểu. Có một điểm đáng lưu ý trong CAPPP là mặc dù bệnh nhân đã được phân nhóm ngẫu nhiên, vì một nguyên nhân không rõ nào đó huyết áp tâm thu khởi điểm của nhóm captopril cao hơn có ý nghĩa so với huyết áp tâm thu khởi điểm của nhóm chẹn bêta/lợi tiểu. Các tác giả CAPPP giải thích sự khác biệt giữa 2 nhóm về tần suất đột quị chính là do huyết áp tâm thu khởi điểm của nhóm captopril cao hơn (4).


Không lâu sau khi công bố kết quả của nghiên cứu CAPPP, nhóm tác giả Thụy Điển đứng đầu là Lennart Hansson và Lars Lindholm lại công bố tiếp một nghiên cứu so sánh thuốc “mới” với thuốc “cũ” trong điều trị tăng huyết áp : đó là nghiên cứu STOP-2 (Swedish Trial in Old Patients with Hypertension-2) (5). Tham gia STOP-2 có 6614 bệnh nhân tăng huyết áp (tâm thu ≥ 180 mm Hg và/hoặc tâm trương ≥ 105 mm Hg) tuổi từ 70 đến 84. Bệnh nhân được phân ngẫu nhiên cho dùng thuốc “cũ” (chẹn bêta atenolol, metoprolol, pindolol hoặc lợi tiểu hydrochlorothiazide + amiloride) hoặc thuốc “mới” (ức chế men chuyển enalapril, lisinopril hoặc chẹn canxi felodipine, isradipine). TCĐG chính là chết do nguyên nhân tim mạch nói chung (do đột quị, NMCT hoặc bệnh tim mạch khác). Thời gian theo dõi trung bình là 4 năm. Kết quả STOP-2 cho thấy thuốc “cũ” và thuốc “mới” có hiệu quả kiểm soát huyết áp tương đương và tần suất chết do nguyên nhân tim mạch của 2 nhóm thuốc “cũ” và thuốc “mới” là bằng nhau (bằng 19,8/1000 bệnh nhân-năm) (5).


Trong năm 2000 có 2 thử nghiệm lâm sàng so sánh thuốc chẹn canxi với thuốc “cũ” được công bố là là NORDIL (Nordic Diltiazem) và INSIGHT (International Nifedipine GITS study: Intervention as a Goal in Hypertension Treatment). Trong NORDIL 10881 bệnh nhân tăng huyết áp (tâm trương ≥ 100 mm Hg), tuổi 50 – 74, được phân ngẫu nhiên cho dùng diltiazem (180 – 360 mg/ngày) hoặc chẹn bêta/lợi tiểu và theo dõi trung bình 4,5 năm (6). TCĐG chính của NORDIL là phối hợp các biến cố đột quị, NMCT và chết do nguyên nhân tim mạch. Trong INSIGHT 6321 bệnh nhân tăng huyết áp (huyết áp ≥ 150/95 mm Hg hoặc huyết áp tâm thu ≥ 160 mm Hg), tuổi 55 – 80, được phân ngẫu nhiên cho dùng nifedipine dạng phóng thích chậm (gastrointestinal-transport-system – GITS) 30 – 60 mg/ngày hoặc lợi tiểu hydrochlorothiazide 25 mg + amiloride 2,5 mg/ngày (ở cả 2 nhóm có thể phối hợp thêm atenolol hoặc enalapril để hạ huyết áp xuống dưới 140/90 mm Hg) và theo dõi trung bình 4 năm (7). TCĐG chính của INSIGHT là phối hợp các biến cố NMCT, suy tim, đột quị và chết do nguyên nhân tim mạch. Cả NORDIL lẫn INSIGHT đều cho thấy thuốc chẹn canxi (diltiazem, nifedipine GITS) có hiệu quả tương đương thuốc chẹn bêta/lợi tiểu trong việc ngăn ngừa các biến cố thuộc TCĐG chính. Tuy nhiên khi xét riêng từng loại biến cố thì có sự khác biệt về hiệu quả của các thuốc: Trong NORDIL tần suất đột quị của diltiazem thấp hơn so với nhóm chẹn bêta/lợi tiểu (6,4/1000 bệnh nhân-năm so với 7,9/1000 bệnh nhân-năm; p = 0,04), còn trong INSIGHT tần suất suy tim mới mắc của nhóm nifedipine GITS cao hơn so với nhóm lợi tiểu (0,8% so với 0,3%; p = 0,028).

Nói chung, qua cả 4 thử nghiệm lâm sàng CAPPP, STOP-2, NORDIL và INSIGHT có thể rút ra kết luận là thuốc “mới” (chẹn canxi, ức chế men chuyển) không có ưu điểm rõ rệt so với thuốc “cũ” (chẹn bêta, lợi tiểu) trong việc ngăn ngừa các biến cố tim mạch nặng ở bệnh nhân tăng huyết áp.

ALLHAT: MỘT NGHIÊN CỨU LỚN GÂY TRANH CÃI

Nghiên cứu ALLHAT (Antihypertensive and Lipid-Lowering Treatment to Prevent Heart Attack Trial) công bố cuối năm 2002 được xem là một nghiên cứu đánh dấu bước ngoặt (landmark trial) ở Hoa Kỳ (8). Tham gia ALLHAT có 33357 bệnh nhân tuổi ≥ 55, có tăng huyết áp kèm ít nhất một yếu tố nguy cơ tim mạch khác (tiền sử NMCT, tiền sử đột quị, phì đại thất trái trên điện tim hoặc siêu âm tim, đái tháo đường týp 2, hút thuốc, HDL < 35 mg/dl, có bệnh tim mạch do xơ vữa động mạch). Bệnh nhân được phân ngẫu nhiên cho dùng lợi tiểu chlorthalidone 12,5–25mg/ngày (n = 15255) hoặc thuốc chẹn canxi amlodipine 2,5–10 mg/ngày (n = 9048) hoặc thuốc ức chế men chuyển lisinopril 10 – 40 mg/ngày (n = 9054) và được theo dõi trung bình 4,9 năm. TCĐG chính là phối hợp các biến cố chết do bệnh ĐMV và NMCT không chết. Huyết áp tâm thu trung bình trong suốt quá trình theo dõi của bệnh nhân dùng chlorthalidone thấp hơn 2 mm Hg (p < 0,001) so với bệnh nhân dùng lisinopril và thấp hơn 0,8 mm Hg (p = 0,03) so với bệnh nhân dùng amlodipine, huyết áp tâm trương trung bình của bệnh nhân dùng chlorthalidone thấp hơn 0,8 mm Hg (p < 0,001) so với bệnh nhân dùng amlodipine. Xét về TCĐG chính, 3 thuốc chlorthalidone, amlodipine và lisinopril có hiệu quả tương đương (tần suất dồn các biến cố thuộc TCĐG chính sau 6 năm là 11,5% ở nhóm chlorthalidone, 11,3% ở nhóm amlodipine và 11,4% ở nhóm lisinopril) (hình 1) (8).


Xét về các TCĐG phụ, giữa 3 nhóm có một số khác biệt. So sánh giữa amlodipine và chlorthalidone cho thấy tần suất dồn suy tim mới mắc sau 6 năm của nhóm amlodipine cao hơn có ý nghĩa (10,2% so với 7,7%; Nguy cơ tương đối = 1,38; KTC 95% = 1,25–1,52). So sánh giữa lisinopril và chlorthalidone cho thấy tần suất dồn đột quị sau 6 năm của nhóm lisinopril cao hơn (33,3% so với 30,9%; Nguy cơ tương đối = 1,10; KTC 95% = 1,05 – 1,16) và tần suất dồn suy tim mới mắc sau 6 năm của nhóm lisinopril cũng cao hơn (8,7% so với 7,7%; Nguy cơ tương đối = 1,07–1,31). Dựa vào kết quả này nhóm tác giả ALLHAT đưa ra kết luận : “Thuốc lợi tiểu nhóm thiazide có hiệu quả cao hơn (amlodipine và lisinopril) trong việc ngăn ngừa một hoặc nhiều tai biến tim mạch và rẻ tiền hơn. Các thuốc này phải được ưu tiên dùng như liệu pháp bước 1 trong điều trị tăng huyết áp”. ALLHAT có cỡ mẫu lớn, thời gian theo dõi khá dài và qui trình theo dõi chặt chẽ, tuy nhiên nghiên cứu này cũng mắc phải một số khuyết điểm nên bị nhiều ý kiến chỉ trích, nhất là từ các tác giả ở Châu Âu. Ý kiến chỉ trích thứ nhất là qui trình điều trị của ALLHAT phi thực tế: Nếu bệnh nhân không đáp ứng với điều trị bước 1 thì ở bước 2 bệnh nhân được cho dùng phối hợp thêm atenolol, clonidine hoặc reserpine và ở bước 3 bệnh nhân sẽ được dùng phối hợp thêm hydralazine uống. Clonidine và reserpine là những thuốc hầu như không còn được dùng trong thực hành lâm sàng, còn hydralazine có nhiều tác dụng phụ, đặc biệt là gây hoạt hóa hệ thần kinh giao cảm nên có hại nhiều hơn lợi (9). Ý kiến chỉ trích thứ 2 là bệnh nhân da đen được điều trị không thích hợp: Khoảng 35% bệnh nhân tham gia ALLHAT là người da đen, những người này có hoạt tính renin huyết tương thấp nên thường đáp ứng kém với ức chế men chuyển và đáp ứng tốt với lợi tiểu. Trong nhóm lisinopril những bệnh nhân da đen có huyết áp không được kiểm soát vẫn không được cho dùng thêm lợi tiểu nên trong số này có một tỉ lệ khá cao có huyết áp không được kiểm soát tốt (9). Ý kiến chỉ trích thứ 3 là chẩn đoán suy tim mới mắc ở những người được phân cho dùng amlodipine trong ALLHAT không thuyết phục: Nhiều bệnh nhân trước khi được tuyển vào nghiên cứu được điều trị bằng lợi tiểu (đơn trị hoặc phối hợp), sau khi vào nghiên cứu lại được phân cho dùng amlodipine và có thể chính việc đổi thuốc này đã làm lộ rõ suy tim tiềm tàng có từ trước. Hơn nữa, amlodipine đôi khi gây phù ngoại vi ở chân, dễ dẫn đến chẩn đoán nhầm là suy tim (10). Ý kiến chỉ trích thứ 4 là các tác giả ALLHAT đã đưa ra kết luận nên ưu tiên dùng lợi tiểu thiazide dựa vào các TCĐG phụ (tần suất đột quị và suy tim mới mắc) và chi phí của thuốc thay vì dựa vào TCĐG chính (tần suất các biến cố thuộc TCĐG chính của 3 nhóm tương đương) (10). Neil Poulter, chủ tịch Hội Tăng Huyết áp Anh và là một chuyên gia đầu ngành về tăng huyết áp của Châu Âu, đã phát biểu như sau về ALLHAT : “ALLHAT không được công nhận là một thử nghiệm lâm sàng đánh dấu bước ngoặt ở bất cứ một nơi nào khác ngoài Hoa Kỳ” (9).

Mặc dù vậy, kết quả ALLHAT đã có ảnh hưởng rất lớn trên việc biên soạn Báo cáo lần 7 của Ủy ban Quốc gia Liên hiệp về phòng ngừa, phát hiện, lượng giá và điều trị tăng huyết áp của Hoa Kỳ (gọi tắt là JNC 7) vì một lý do đơn giản là quá nửa nhóm biên soạn JNC 7 là những đồng tác giả của nghiên cứu ALLHAT. Theo JNC 7, lợi tiểu thiazide được xem là trị liệu ưu tiên bước đầu trong tăng huyết áp giai đoạn 1 (tâm thu = 140-159 mm Hg, tâm trương = 90-99 mm Hg) và cũng được khuyến cáo dùng phối hợp với một thuốc khác trong tăng huyết áp giai đoạn 2 (tâm thu ≥ 160 mm Hg hoặc tâm trương ≥ 100 mm Hg) (11).

LIFE, ANBP2 VÀ CONVINCE

Trong 2 năm 2002-2003 ngoài ALLHAT có 3 nghiên cứu lớn khác so sánh thuốc “mới” với thuốc “cũ” trong điều trị tăng huyết áp đã được công bố là LIFE, ANBP2 và CONVINCE.

LIFE (Losartan Intervention For Endpoint reduction in hypertension) là một thử nghiệm lâm sàng phân nhóm ngẫu nhiên trên 9193 bệnh nhân tăng huyết áp, tuổi trung bình 67 (nữ chiếm 54%), có phì đại thất trái trên điện tim (tích số Cornell > 2440 mm*ms hoặc chỉ số Sokolow-Lyon > 38 mm). Bệnh nhân được phân ngẫu nhiên cho dùng thuốc chẹn thụ thể angiotensin II losartan (khởi đầu 50 mg, tối đa 100 mg/ngày) hoặc atenolol (khởi đầu 50 mg, tối đa 100 mg/ngày) và theo dõi trung bình 4,8 năm (ở cả 2 nhóm có thể phối hợp thêm hydrochlorothiazide ở bước 2 để kiểm soát huyết áp). TCĐG chính là phối hợp các biến cố NMCT, đột quị và chết do nguyên nhân tim mạch. Kết quả LIFE cho thấy hiệu quả kiểm soát huyết áp của losartan và atenolol tương đương, tuy nhiên tần suất các biến cố thuộc TCĐG chính, đặc biệt là đột quị, của nhóm losartan thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm atenolol (mức giảm nguy cơ bởi losartan so với atenolol là 13%; p = 0,021) (12).


ANBP2 (Second Australian National Blood Pressure Study) được công bố không lâu sau ALLHAT và có kết quả khác với ALLHAT. Trong nghiên cứu này 6083 bệnh nhân tăng huyết áp (tâm thu ≥ 160 mm Hg hoặc tâm trương ≥ 90 mm Hg), tuổi 65 – 84, được phân ngẫu nhiên cho dùng thuốc ức chế men chuyển (enalapril được khuyến khích dùng) hoặc lợi tiểu thiazide (hydrochlorothiazide được khuyến khích dùng) để hạ huyết áp tâm thu ≥ 20 mm Hg xuống dưới 160 mm Hg và hạ huyết áp tâm trương ≥ 10 mm Hg xuống dưới 90 mm Hg. Thời gian theo dõi trung vị là 4,1 năm. TCĐG chính là phối hợp các biến cố tim mạch (NMCT, đột tử do tim, suy tim, tắc động mạch cấp, bóc tách hoặc vỡ phình động mạch chủ, đột quị, cơn thoáng thiếu máu não) và chết do mọi nguyên nhân. Kết quả ANBP2 cho thấy huyết áp của 2 nhóm ức chế men chuyển và lợi tiểu thiazide giảm tương đương, tuy nhiên tần suất các biến cố thuộc TCĐG chính của nhóm ức chế men chuyển thấp hơn (tỉ số nguy cơ = 0,89; KTC 95% = 0,79–1,00), nhất là ở bệnh nhân nam tham gia nghiên cứu (ở bệnh nhân nam tỉ số nguy cơ = 0,83 ; KTC 95% = 0,71 – 0,97) (13).


Vì sao trong ANBP2 thuốc ức chế men chuyển tỏ ra ưu việt hơn lợi tiểu thiazide trong khi ALLHAT lại cho kết quả trái ngược ? Sự khác biệt về kết quả của 2 nghiên cứu có thể do : (i) Đặc điểm của bệnh nhân được tuyển vào 2 nghiên cứu khác nhau (ví dụ tuổi trung bình của bệnh nhân tham gia ALLHAT là 67 và của bệnh nhân tham gia ANBP2 là 72, trong ALLHAT có hơn 1/3 bệnh nhân là người da đen còn trong ANBP2 số người da đen rất ít …); (ii) Lợi tiểu được dùng trong ANBP2 là hydrochlorothiazide có thời gian tác dụng ngắn hơn so với chlorthalidone được dùng trong ALLHAT (14).

CONVINCE (Controlled Onset Verapamil Investigation of Cardiovascular End Points) là một thử nghiệm lâm sàng phân nhóm ngẫu nhiên trên 16602 bệnh nhân tăng huyết áp, tuổi ≥ 55 và có ít nhất một yếu tố nguy cơ tim mạch khác ngoài tăng huyết áp. Bệnh nhân được phân cho dùng verapamil dạng tác dụng kéo dài (180–360mg/ngày) hoặc thuốc “cũ” (atenolol 50–100mg/ngày ± hydrochlorothiazide 12,5–25 mg/ngày). TCĐG chính là phối hợp các biến cố đột quị, NMCT và chết do nguyên nhân tim mạch. Sau thời gian theo dõi trung bình 3 năm nghiên cứu buộc phải chấm dứt sớm vì thiếu kinh phí (2 công ty SEARLE và PHARMACIA ngừng tài trợ vì lý do thương mại). Kết quả CONVINCE cho thấy tần suất dồn các biến cố thuộc TCĐG chính sau 3 năm của 2 nhóm verapamil và thuốc “cũ” khác biệt không có ý nghĩa (4,94% so với 4,73% ; p = 0,77) (15).

PHÂN TÍCH GỘP BPLTT

Năm 2003 nhóm nghiên cứu BPLTT (Blood Pressure Lowering Treatment Trialists’ Collaboration) bao gồm những chuyên gia đầu ngành về tăng huyết áp của Hoa Kỳ, Châu Âu và Úc đã công bố một phân tích gộp số liệu của 29 thử nghiệm lâm sàng phân nhóm ngẫu nhiên về điều trị tăng huyết áp (bao gồm CAPPP, STOP-2, NORDIL, INSIGHT, LIFE, ALLHAT, ANBP2, CONVINCE và một số thử nghiệm lâm sàng khác) (16). Tổng số bệnh nhân trong phân tích gộp là 162341 người. Mục tiêu của phân tích gộp là so sánh ảnh hưởng của các nhóm thuốc khác nhau trên nguy cơ bị các biến cố tim mạch nặng ở bệnh nhân tăng huyết áp. Phân tích gộp này chứng minh một số điểm hết sức quan trọng như sau : (i) So với placebo, cả thuốc chẹn canxi lẫn thuốc ức chế men chuyển và thuốc chẹn thụ thể angiotensin II đều giảm có ý nghĩa nguy cơ bị các biến cố tim mạch nặng; (ii) Hiệu lực phòng ngừa các biến cố tim mạch nặng nói chung của thuốc “mới” (chẹn canxi, ức chế men chuyển) và thuốc “cũ” (chẹn bêta, lợi tiểu) tương đương nhau. Tuy nhiên xét riêng từng loại biến cố thì hiệu quả của các nhóm thuốc có khác nhau: Thuốc chẹn canxi giảm nguy cơ đột quị nhiều hơn nhưng giảm nguy cơ suy tim mới mắc ít hơn so với thuốc “cũ”, còn thuốc ức chế men chuyển giảm nguy cơ đột quị ít hơn so với thuốc “cũ” và giảm nguy cơ suy tim mới mắc nhiều hơn so với thuốc chẹn canxi ; (iii) Hạ huyết áp càng nhiều thì nguy cơ bị các biến cố tim mạch nặng càng thấp. Đối với hầu hết các biến cố tim mạch nặng (như đột quị, NMCT, chết do nguyên nhân tim mạch), trừ suy tim, mức giảm nguy cơ bị biến cố tỉ lệ thuận với mức hạ huyết áp do điều trị.

SO SÁNH PHỐI HỢP THUỐC: NGHIÊN CỨU INVEST

Nhiều nghiên cứu cho thấy ở bệnh nhân tăng huyết áp đơn trị liệu chỉ kiểm soát được huyết áp trong khoảng 50% các trường hợp và ngay cả khi mất khá nhiều thời gian để đổi thuốc nhiều lần (đơn trị liệu nối tiếp) cũng chỉ có khoảng ¾ bệnh nhân được kiểm soát tốt huyết áp (17,18). Vì vậy khuynh hướng hiện nay là phối hợp thuốc sớm trong điều trị tăng huyết áp, nhất là ở những bệnh nhân tăng huyết áp giai đoạn 2 hoặc tăng huyết áp có kèm nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch khác. Từ thực tế này đã nảy sinh vấn đề so sánh 2 (hay nhiều) phối hợp thuốc chứ không chỉ đơn thuần là 2 (hay nhiều) thuốc trong điều trị tăng huyết áp. INVEST (International Verapamil-Trandolapril Study) là thử nghiệm lâm sàng đầu tiên so sánh 2 phối hợp thuốc điều trị tăng huyết áp. Trong INVEST 22576 bệnh nhân tăng huyết áp, tuổi ≥ 50 và có bệnh ĐMV (tiền sử NMCT, hẹp ≥ 50% một ĐMV lớn trên phim chụp ĐMV, đau thắt ngực hoặc dấu hiệu thiếu máu cục bộ tim khi làm nghiệm pháp gắng sức) được phân ngẫu nhiên cho dùng phối hợp thuốc “mới” (verapamil 180 – 240 mg + trandolapril 2 – 4 mg/ngày) hoặc phối hợp thuốc “cũ” (atenolol 50 – 100 mg + hydrochlorothiazide 25 mg/ngày) và theo dõi trung bình 2,7 năm (19). TCĐG chính là phối hợp các biến cố chết do mọi nguyên nhân, NMCT không chết và đột quị không chết. Kết quả INVEST cho thấy 2 phối hợp thuốc “mới” và thuốc “cũ” có hiệu quả tương đương trong việc kiểm soát huyết áp và ngăn ngừa các biến cố lâm sàng: Tần suất TCĐG chính là 9,93% ở nhóm phối hợp thuốc “mới” và 10,17% ở nhóm phối hợp thuốc “cũ” (p=0,57).

ASCOT-BPLA: CHỨNG CỨ QUAN TRỌNG VỀ TÍNH ƯU VIỆT CỦA PHỐI HỢP AMLODIPINE + PERINDOPRIL

ASCOT-BPLA (Anglo-Scandinavian Cardiac Outcomes Trial-Blood Pressure Lowering Arm) là thử nghiệm lâm sàng về điều trị tăng huyết áp mới nhất được công bố. Trong nghiên cứu này 19257 bệnh nhân tăng huyết áp (tâm thu ≥160 mm Hg hoặc tâm trương ≥100 mm Hg), tuổi 40–79, có ít nhất 3 yếu tố nguy cơ tim mạch (phì đại thất trái trên điện tim hoặc siêu âm tim, đái tháo đường týp 2, bệnh động mạch ngoại vi, tiền sử đột quị hoặc cơn thoáng thiếu máu não, nam giới tuổi ≥ 55, albumin niệu vi lượng hoặc lâm sàng, hút thuốc, tỉ số cholesterol toàn phần/HDL ≥ 6, tiền sử gia đình mắc bệnh ĐMV sớm) được phân ngẫu nhiên cho dùng phối hợp thuốc “cũ” hoặc phối hợp thuốc “mới” (20). Đích huyết áp ở cả 2 nhóm phối hợp thuốc “mới” và thuốc “cũ” là <140/90 mm Hg (<130/80 mm Hg ở bệnh nhân có đái tháo đường). Ở nhóm phối hợp thuốc “mới” bệnh nhân được cho dùng amlodipine khởi đầu 5 mg/ngày, tối đa 10 mg/ngày, sau đó phối hợp thêm perindopril khởi đầu 4 mg/ngày, tối đa 8 mg/ngày để đạt đích huyết áp. Ở nhóm phối hợp thuốc “cũ” bệnh nhân được cho dùng atenolol khởi đầu 50 mg/ngày, tối đa 100 mg/ngày, sau đó phối hợp thêm bendroflumethiazide khởi đầu 1,25 mg/ngày, tối đa 2,5 mg/ngày để đạt đích huyết áp. Thời gian theo dõi trung vị là 5,5 năm và TCĐG chính là phối hợp các biến cố NMCT không chết (bao gồm NMCT yên lặng) và chết do bệnh ĐMV. Đặc điểm bệnh nhân tham gia ASCOT-BPLA được nêu trên bảng 1.

Bảng 1. Đặc điểm bệnh nhân tham gia ASCOT-BPLA.

Nhóm

Amlodipine + Perindopril
(n = 9639)

Atenolol + Thiazide
(n = 9618)

Giới nam

7381 (77%)

7361 (77%)

Tuổi (năm)

63,0 ± 8,5

63,0 ± 8,5

≤ 60
> 60

3558 (37%)
6081 (63%)

3534 (37%)
6084 (63%)

HA tâm thu (mm Hg)

164,1 ± 18,1

163,9 ± 18,0

HA tâm trương (mm Hg)

94,8 ± 10,4

94,5 ± 10,4

Đường huyết (mmol/l)

6,2 ± 2,1

6,2 ± 2,1

Creatinin (µmol/l)

98,7 ± 16,6

97,7 ± 17,0

LDL (mmol/l)

3,8 ± 1,0

3,8 ± 1,0

HDL (mmol/l)

1,3 ± 0,4

1,3 ± 0,4

TG (mmol/l)

1,8 ± 1,0

1,9 ± 1,0

Hút thuốc

3168 (33%)

3109 (32%)

Đái tháo đường

2567 (27%)

2578 (27%)

Tiền sử đột quị

1050 (11%)

1063 (11%)

Bệnh động mạch ngoại vi

586 (6%)

613 (6%)


Kết quả ASCOT-BPLA cho thấy phối hợp amlodipine + perindopril kiểm soát huyết áp tốt hơn phối hợp atenolol + thiazide (tính trung bình trong suốt nghiên cứu, huyết áp của nhóm amlodipine + perindopril thấp hơn 2,7/1,9 mm Hg so với nhóm atenolol + thaizide) và có ảnh hưởng thuận lợi hơn trên chuyển hóa glucose, lipid và chức năng thận (vào cuối nghiên cứu nhóm amlodipine + perindopril có HDL cao hơn, TG, đường huyết và creatinin huyết thanh thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm atenolol + thiazide). Tần suất TCĐG chính của 2 nhóm khác biệt không có ý nghĩa (8,2/1000 bệnh nhân-năm ở nhóm amlodipine + perindopril và 9,1/1000 bệnh nhân-năm ở nhóm atenolol + thiazide; p = 0,105), tuy nhiên tần suất của nhiều biến cố lâm sàng khác, bao gồm tử vong do mọi nguyên nhân và tử vong do nguyên nhân tim mạch, của nhóm amlodipine + perindopril thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm atenolol + thiazide (bảng 2). Trên hình 2 là tần suất dồn tử vong do mọi nguyên nhân của 2 nhóm. Tỉ lệ phải ngưng thuốc do tác dụng phụ nặng là 2% ở nhóm amlodipine + perindopril và 3% ở nhóm atenolol + thiazide (p < 0,0001).


Bảng 2. So sánh tần suất các biến cố lâm sàng (/1000 bệnh nhân-năm) trong nghiên cứu ASCOT-BPLA.

Biến cố

Amlodipine + perindopril

Atenolol + thiazide

Tỉ số nguy cơ (KTC 95%)

p

Tử vong do mọi nguyên nhân

13,9

15,5

0,89 (0,81-0,99)

0,0247

Tử vong tim mạch

4,9

6,5

0,76 (0,65-0,90)

0,001

Các biến cố ĐMV nói chung

14,6

16,8

0,87 (0,79-0,96)

0,007

Các biến cố và thủ thuật/phẫu thuật ĐMV

27,4

32,8

0,84 (0,78-0,90)

< 0,001

Đau thắt ngực không ổn định

1,4

2,0

0,68 (0,51-0,92)

0,0115

Đột quị

6,2

8,1

0,77 (0,66-0,89)

0,0003

Bệnh động mạch ngoại vi

2,5

3,9

0,65 (0,52-0,81)

0,0001

Đái tháo đường mới mắc

11,0

15,9

0,70 (0,63-0,78)

<0,0001

Suy thận mới mắc

7,7

9,1

0,85 (0,75-0,97)


ASCOT-BPLA là nghiên cứu về điều trị tăng huyết áp lớn nhất từ trước đến nay ở Châu Âu. Kết quả của nghiên cứu này đã chứng minh một cách thuyết phục tính ưu việt của phối hợp amlodipine + perindopril so với phối hợp thuốc “cũ”. Một số câu hỏi đã nảy sinh từ kết quả của ASCOT-BPLA. Câu hỏi thứ nhất là vì sao phối hợp amlodipine + perindopril có hiệu quả ngừa các biến cố lâm sàng cao hơn phối hợp thuốc “cũ” ? 2 cơ chế sau đây được nêu lên để giải thích điều này: (i) Phối hợp amlodipine + perindopril kiểm soát huyết áp tốt hơn (khác biệt huyết áp giữa 2 nhóm, như đã đề cập ở trên, là 2,7/1,9mmHg) ; (ii) Phối hợp amlodipine + perindopril có ảnh hưởng thuận lợi hơn trên chuyển hóa glucose và lipid, ngăn ngừa đái tháo đường mới mắc và bảo vệ thận hữu hiệu hơn (21,22). Câu hỏi thứ 2 nảy sinh là do đâu có sự khác biệt về kết quả giữa ASCOT và INVEST dù cả 2 nghiên cứu đều so sánh phối hợp thuốc chẹn canxi + ức chế men chuyển với phối hợp thuốc “cũ” (atenolol + hydrochlorothiazide)? Điểm đầu tiên có thể thấy là đặc điểm bệnh nhân tham gia 2 nghiên cứu INVEST và ASCOT-BPLA khác nhau (tất cả bệnh nhân trong INVEST đều có bệnh ĐMV, trong khi đối với ASCOT-BPLA những người có tiền sử NMCT hoặc đau thắt ngực được loại từ đầu). Điểm thứ 2 cũng rất quan trọng là các thuốc dùng trong 2 nghiên cứu khác nhau : Thuốc chẹn canxi là verapamil trong INVEST và amlodipine trong ASCOT-BPLA, thuốc ức chế men chuyển là trandolapril trong INVSET và perindopril trong ASCOT-BPLA. Nếu ta nhớ lại kết quả của 2 nghiên cứu được công bố gần đây là EUROPA (chứng tỏ perindopril có hiệu quả ngăn ngừa các biến cố tim mạch) và PEACE (cho thấy trandolapril không có hiệu quả này), ta có thể thấy là không phải mọi thuốc ức chế men chuyển đều có lợi như nhau (23,24).

VẤN ĐỀ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG MỚI MẮC Ở BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP

Nghiên cứu đoàn hệ ARIC (Atherosclerosis Risk in Communities) trên 12550 người lớn tuổi 45-64 ở Hoa Kỳ cho thấy tăng huyết áp là một yếu tố nguy cơ của đái tháo đường mới mắc : Trong nghiên cứu này những người tăng huyết áp có tần suất đái tháo đường mới mắc cao gấp 2,43 lần so với những người không tăng huyết áp (25). Gần đây trong y văn đã xuất hiện nhiều cảnh báo về nguy cơ đái tháo đường mới mắc ở những bệnh nhân tăng huyết áp được điều trị bằng thuốc chẹn bêta/lợi tiểu: Khi đánh giá lại kết quả của các thử nghiệm lâm sàng lớn về điều trị tăng huyết áp, người ta nhận thấy những người được điều trị bằng thuốc chẹn bêta/lợi tiểu có tần suất đái tháo đường mới mắc cao hơn có ý nghĩa so với những người được điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển (CAPPP, ALLHAT, ANBP2), thuốc chẹn canxi (INSIGHT, ALLHAT), phối hợp thuốc ức chế men chuyển + thuốc chẹn canxi (INVEST, ASCOT-BPLA) hoặc thuốc chẹn thụ thể angiotensin II (LIFE) (26,27). Một ngoại lệ duy nhất là nghiên cứu STOP-2: Trong nghiên cứu này tần suất đái tháo đường mới mắc của 3 nhóm ức chế men chuyển, chẹn canxi và chẹn bêta/lợi tiểu tương đương nhau (5). Tuy nhiên cần lưu ý là STOP-2 được thực hiện trên những bệnh nhân tăng huyết áp cao tuổi (≥ 70) nên không phải là một mô hình thích hợp để nghiên cứu đái tháo đường mới mắc (Nếu mắc bệnh đái tháo đường týp 2 thì thường mắc bệnh ở lứa tuổi trung niên chứ không phải sau 70 tuổi) (28). Một số người, trong đó có các tác giả ALLHAT, cho rằng hiện tượng những người được điều trị bằng thuốc “cũ” có tần suất đái tháo đường mới mắc cao hơn so với những người được điều trị bằng thuốc “mới” là không quan trọng vì trong hầu hết các thử nghiệm lâm sàng tỉ lệ tử vong và biến cố tim mạch nặng ở những người dùng thuốc “cũ” và những người dùng thuốc “mới” không khác biệt (8). Lập luận này đã bị chỉ trích vì đa số các thử nghiệm lâm sàng kéo dài không quá 5 năm, khoảng thời gian này không đủ dài để thấy xuất hiện các biến chứng tim mạch của đái tháo đường mới mắc (28). Verdecchia và CS theo dõi 795 bệnh nhân tăng huyết áp trong thời gian trung bình 6 năm (dài nhất: 16 năm) để tìm hiểu dự hậu tim mạch của đái tháo đường mới mắc (29). Các tác giả này nhận thấy tần suất các biến cố tim mạch nặng là 0,97/1000 bệnh nhân-năm ở những người không đái tháo đường, 3,90/1000 bệnh nhân-năm ở những người bị đái tháo đường mới mắc trong thời gian theo dõi và 4,70/1000 bệnh nhân-năm ở những người có bệnh đái tháo đường ngay từ đầu (hình 3). Nghiên cứu của Verdecchia và CS chứng tỏ rằng nếu theo dõi đủ thời gian thì sẽ thấy đái tháo đường mới mắc cũng dẫn đến tăng nguy cơ bị các biến chứng tim mạch.


Sự tăng nguy cơ đái tháo đường mới mắc ở bệnh nhân tăng huyết áp được điều trị bằng chẹn bêta/lợi tiểu được các tác giả Anh rất quan tâm và điều này đã thể hiện trong Hướng dẫn điều trị tăng huyết áp lần IV năm 2004 của Hội Tăng Huyết áp Anh (gọi tắt là BHS-IV). Trong Hướng dẫn này có nêu: “Tránh dùng phối hợp lợi tiểu + chẹn bêta cho những người có nguy cơ cao mắc bệnh đái tháo đường (tiền sử đái tháo đường gia đình, béo phì, rối loạn đường huyết lúc đói, người thuộc chủng tộc có tần suất lưu hành đái tháo đường cao)” (30).

KẾT LUẬN

Từ kết quả của các thử nghiệm lâm sàng về điều trị tăng huyết áp đã được công bố có thể rút ra một số kết luận như sau: (i) Khi điều trị tăng huyết áp, hạ huyết áp là điều kiện tiên quyết vì mức giảm nguy cơ bị các biến cố tim mạch nặng có tương quan tuyến tính với mức giảm huyết áp do điều trị. Các thuốc “mới” (ức chế men chuyển, chẹn canxi) và thuốc “cũ” (lợi tiểu, chẹn bêta) có hiệu quả tương đương trong việc giảm tử vong và bệnh tật tim mạch nói chung. Tuy nhiên trong việc ngăn ngừa một số biến cố tim mạch như đột quị hay suy tim mới mắc, giữa các nhóm thuốc khác nhau có sự khác biệt về hiệu quả. Riêng ở người bệnh tăng huyết áp có phì đại thất trái, thuốc chẹn thụ thể AT II có lợi hơn thuốc chẹn bêta atenolol; (ii) Ở bệnh nhân tăng huyết áp giai đoạn 2 hoặc tăng huyết áp có nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch kèm theo, phối hợp thuốc hạ huyết áp rất cần thiết. Ở các đối tượng này phối hợp amlodipine + perindopril có hiệu quả ngừa tử vong và bệnh tật tim mạch cao hơn phối hợp chẹn bêta + lợi tiểu; (iii) Điều trị tăng huyết áp bằng phối hợp chẹn bêta + lợi tiểu có thể tăng nguy cơ đái tháo đường mới mắc về dài hạn, do đó nên tránh dùng phối hợp này cho bệnh nhân chưa có đái tháo đường nhưng có nguy cơ cao mắc bệnh.

----------------------------------------------------------------------------------

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. MacMahon S, Peto R, Cutler J, et al. Blood pressure, stroke, and coronary heart disease. Part 1, prolonged differences in blood pressure: prospective observational studies corrected for the regression dilution bias. Lancet 1990; 335: 765-774.
2. Collins R, Peto R, MacMahon S, et al. Blood pressure, stroke, and coronary heart disease. Part 2, short-term reductions in blood pressure: overview of randomised drug trials in their epidemiological context. Lancet 1990; 335: 827-838.
3. Moser M. Clinical management of hypertension, 7th edition. Professional Communications, Inc, 2004.
4. Hansson L, Lindholm LH, Niskanen L, et al, for the Captopril Prevention Project (CAPPP) study group. Effect of angiotensin-converting enzyme inhibitor compared with conventional therapy : the Captopril Prevention Project (CAPPP) randomised trial. Lancet 1999; 353: 611-616.
5. Hansson L, Lindholm LH, Ekbom T, et al, for the STOP-Hypertension-2 study group. Randomised trial of old and new antihypertensive drugs in the elderly patients: cardiovascular mortality and morbidity the Swedish Trial in Old Patients with Hypertension-2 study. Lancet 1999; 354: 1751-1756.
6. Hansson L, Hedner T, Lund-Johansen P, et al, for the NORDIL Study Group. Randomised trial of effects of calcium antagonists compared with diuretics and β-blockers on cardiovascular morbidity and mortality in hypertension : the Nordic Diltiazem (NORDIL) study. Lancet 2000; 356: 359-365.
7. Brown MJ, Palmer CR, Castaigne A, et al. Morbidity and mortality in patients randomised to double-blind treatment with a long-acting calcium-channel blocker or diuretic in the International Nifedipine GITS study : Intervention as a Goal in Hypertension Treatment (INSIGHT). Lancet 2000; 356: 366-372.
8. The ALLHAT Officers and Coordinators for the ALLHAT Collaborative Research Group. Major outcomes in high-risk hypertensive patients randomized to angiotensin-converting enzyme inhibitor or calcium-channel blocker vs diuretic. The Antihypertensive and Lipid-Lowering Treatment to Prevent Heart Attack Trial (ALLHAT). JAMA 2002; 288: 2981-2997.
9. Grossman W. Hypertension after ALLHAT. www.cardiosource.com/expertopinions/hottopics.
10. Messerli FH. ALLHAT, or the soft science of the secondary end point. Ann Intern Med 2003; 139: 777-780.
11. Chobanian AV, Bakris GL, Black HR, et al. The Seventh Report of the Joint National Committee on Prevention, Detection, Evaluation, and Treatment of High Blood Pressure : The JNC 7 report. JAMA 2003; 289: 2560-2572.
12. Dahlof B, Devereux RB, Kjeldsen SE, et al, for the LIFE study group. Cardiovascular morbidity and mortality in the Losartan Intervention For Endpoint reduction in hypertension study (LIFE) : a randomised trial against atenolol. Lancet 2002; 359: 995-1003.
13. Wing LMH, Reid CM, Ryan P, et al, for the Second Australian National Blood Pressure Study Group. A comparison of outcomes with angiotensin-converting-enzyme inhibitors and diuretics for hypertension in the elderly. N Engl J Med 2003; 348: 583-592.
14. Frohlich ED. Treating hypertension – What are we to believe ? N Engl J Med 2003; 348: 639-641.
15. Black HR, Elliott WJ, Grandits G, et al. Principal results of the Controlled Onset Verapamil Investigation of Cardiovascular End Points (CONVINCE) trial. JAMA 2003; 289: 2073-2082.
16. Blood Pressure Lowering Treatment Trialists’ Collaboration. Effect of different blood-pressure-lowering regimens on major cardiovascular events : results of prospectively-designed overviews of randomised trials. Lancet 2003; 362: 1527-1535.
17. Materson BJ. Single-drug therapy for hypertension in men. A comparison of six antihypertensive agents with placebo. The Department of Veterans Affairs Cooperative Study Group on Antihypertensive Agents. N Engl J Med 1993; 328: 914-921.
18. Materson BJ, Reda DJ, Preston RA, et al. Response to a second single antihypertensive agent used as monotherapy for hypertension after failure of the initial drug. Department of Veterans Affairs Cooperative Study Group on Antihypertensive Agents. Ann Intern Med 1995; 155: 1757-1762.
19. Pepine CJ, Handberg EM, Cooper-DeHoff RM, et al, for the INVEST investigators. A calcium antagonist vs a non-calcium antagonist hypertension treatment strategy for patients with coronary artery disease. The International Verapamil-Trandolapril Study (INVEST) : A randomized controlled trial. JAMA 2003; 290: 2805-2816.
20. Dahlof B, Sever PS, Poulter NR, et al, for the ASCOT Investigators. Prevention of cardiovascular events with an antihypertensive regimen of amlodipine adding perindopril as required versus atenolol adding bendroflumethiazide as required, in the Anglo-Scandinavian Cardiac Outcomes Trial-Blood Pressure Lowering Arm (ASCOT-BPLA) : A multicentre randomised controlled trial. Lancet 2005; 366: 895-906.
21. Poulter NR, Wedel H, Dahlof B, et al, for the ASCOT Investigators. Role of blood pressure and other variables in the differential cardiovascular event rates noted in the Anglo-Scandinavian Cardiac Outcomes Trial-Blood Pressure Lowering Arm (ASCOT-BPLA). Lancet 2005; 366: 907-913.
22. Staessen JA, Birkenhager WH. Evidence that new antihypertensives are superior to older drugs. Lancet 2005; 366: 869-871.
23. EURopean trial On reduction of cardiac events with Perindopril in stable coronary Artery disease Investigators. Efficacy of perindopril in reduction of cardiovascular events among patients with stable coronary artery disease : a randomised, double-blind, placebo-controlled, multicenter trial (the EUROPA study). Lancet 2003; 362: 782-788.
24. The PEACE Investigators. Angiotensin converting enzyme inhibition in stable coronary artery disease. N Engl J Med 2004; 351: 2058-2068.
25. Gress TW, Nieto FJ, Shahar E, et al. Hypertension and antihypertensive therapy as risk factors for type 2 diabetes mellitus. Atherosclerosis Risk In Communities (ARIC) study. N Engl J Med 2000; 342: 905-912.
26. Williams B. Recent hypertension trials : Implications and controversies. J Am Coll Cardiol 2005; 45: 813-827.
27. Pepine CJ, Cooper-DeHoff RM. Cardiovascular therapies and risk for development of diabetes. J Am Coll Cardiol 2004; 44: 509-512.
28. Pepine C. The effects of antihypertensives in new-onset diabetes. www.conversations.acc.org/modules/conv/acc/1204a.
29. Verdecchia P, Reboldi G, Angeli F, et al. Adverse prognostic significance of new diabetes in treated hypertensive subjects. Hypertension 2004; 43: 963-969.
30. Williams B, Poulter NR, Brown MJ, et al. British Hypertension Society guidelines for hypertension management 2004 (BHS-IV) : Summary. BMJ 2004; 328: 634-640.

 Xem thêm =>C- Chọn lựa và kết hợp dược liệu tối ưu và D- Chọn lựa thuốc trong một số trường hợp cao HA

Tất cả mọi trích dịch xin ghi rõ tên tác giả và nguồn www.dieu-tri-noi-khoa.com

click for a free hit counter
get a free hit counter
Make a Free Website with Yola.