DIEU-TRI-NOI-KHOA.COM

  • Home
  • Lich su YKDH Sai Gon
  • NHUNG DANG HIEN LANG LE
  • nhin-lai-YKDH-sai-gon
  • UNG THU CO TU CUNG I
  • UNG THU CO TU CUNG II
  • Nha Toan hoc NGO BAO CHAU se la GS UChicago
  • RUNG MINH KHI NGHI DEN BENH VIEN VN
  • Growth of aid and the decline of humanitarianism
  • THAO LUAN DIEU TRI 1 CAS GIAI PHAU O VN
  • nhat-thuc-hinh nhan-cua-thien-ky
  • Xu Tri Cap Cuu tai bien nhiem SIDA
  • Dieu Tri Tang HA-thuoc CU hay MOI
  • Xet duyet chuc danh GS-Noi the chu khong phai the
  • Hen phe quan o tre em-Chan doan-Dieu tri-Theo doi
  • hen-phe-quan-va-nhiem the 17
  • Tan man ve Te Bao Goc - Stem Cells
  • Cum A-H1N1 Cas bien chung dau tien do chung ngua
  • Tan Bo truong Y te Duc quoc va thu thach dau tien
  • MAT DO dinh-benh-dieu-tri
  • Dieu tri benh PHI DAI LANH TINH TIEN LIET TUYEN
  • Nguoi NANG NHAT THE GIOI 445 Kilo
  • dieu-tri-benh-loang-xuong-osteoporosis
  • Vaccine phong chong HIV hieu qua den dau
  • MRI trong danh gia thieu mau va song con co tim
  • Dieu tri BENH PHOI TAC NGHEN MAN TINH
  • Dieu tri SUY HO HAP CAP TINH A-H1N1
  • VACCINE PHONG CHONG CUM A-H1N1 cua TQ
  • SOT XUAT HUYET - Dengue Hemmorrhagic Fever
  • Dieu tri benh cao huyet ap nguyen phat
  • MRI va SIEU AM gop phan cach mang dieu tri BUOU
  • Tong ket cac truong hop ong vo ve dot-BV Cho ray
  • Nghien cuu Y-khoa SUY THAN CAP SAU NGO DOC MAT CA
  • su-dung-va-theo-doi-thuoc-ngua-thai-estroprogesta
  • Dieu tri buou xo tu cung
  • Hy vong moi trong dieu tri tieu duong type 1
  • Bep phi-Hoi chung bien duong va Tieu duong
  • Dieu Tri va Theo Doi Benh tieu duong loai 2
  • 31 thang 5-Ngay Quoc Te KHONG THUOC LA
  • CUM HEO
  • A-H1N1 -Trieu-chung-_Phong-chong--1-cas-benh
  • Hinh vui-canh bien Marseille va bien Dia Trung Hai
  • Hinh vui-canh tuyet Marseille-JAN 2009
  • Links Websites khac


 

ĐIỀU TRỊ VA THEO DõI BỆNH TIỂU ĐƯỜNG LOẠI 2-(DIABETE DE TYPE 2): + 2 cas cliniques.

 

 

I- Tổng quát:

Bệnh tiểu đường type 2 là một bệnh biến dưỡng mãn tính, biểu hiện bởi lượng đường máu cao.

Là một trong những bệnh nội khoa có tầm quan trọng hàng đầu vì những lí do:

1-Số người mắc bệnh trên toàn thế giới hiện nay và sự lan tràn nhanh chóng của nó: Các con số sau đây của Cơ Quan Y Tế quốc tế (OMS) đủ để thuyết phục các cơ quan hữu trách Y tế ở mọi cấp bậc: Theo Tổ Chức Y tế thế giới (OMS) có 30 triệu bệnh nhân vào năm 1985, con số nầy tăng lên 135 triệu vào năm 1995 và lên đến 195 triệu năm 2003 trong đó 2/3 là bệnh nhân ở những quốc gia trên đà phát triển.

2-Nguy cơ trầm trọng cho sức khoẻ của bệnh nhân vì nó có thể đưa đến tàn phế (mù loà, cưa chân), và tử vong nếu không được điều trị hiệu quả.

3-Tiến triển Y khoa ngày nay cho phép phòng ngừa và chửa trị bệnh một cách hiệu quả. Yếu tố quyết định cho phép các phương pháp điều trị đạt được kết quả tốt tùy thuộc vào quyết tâm của tập thể (xã hội qua đường lối, chánh sách y tế) và quyết tâm của chính bệnh nhân.

Bệnh tiểu đưòng được chia làm 2 loại:

1-Tiểu đường type 1: 

Có tính di truyền cao, thường xảy ra ở trẻ em hoặc bệnh nhân trẻ (<40 tuổi). Tế bào bêta Langerhans cuả tuyến tụy tạng bị phá hủy do tự miển nhiễm (autoimmune) nên không còn khả năng tiết ra insuline. Bệnh thưòng được phát hiện bởi những triệu chứng như: gầy ốm, mệt mỏi, tiểu nhiều, uống nhiều, ăn nhiều. Điều trị bệnh tiểu đường type 1 chủ yếu dựa vào cung cấp insuline bằng cách tiêm nhiều lần trong ngày.

2-Bệnh tiểu đường type 2:  Chiếm khoảng 90% bệnh tiểu đường. Thường xảy ra ở bệnh nhân lớn tuổi (>40), tuy nhiên khuynh hướng xảy ra ở bệnh nhân trẻ và trẻ em càng ngày càng gia tăng. Sự xuất hiện bệnh tiểu dường type 2 có liên quan mật thiết với lối sống nhàn cư và cách ăn uống quá giàu năng lượng,

II- Những nguy cơ sinh bệnh:

Hiện diện càng nhiều những yếu tố sau đây càng gia tăng nguy cơ bị bệnh tiểu đường type 2:

 

1- Béo phì: Nếu bệnh nhân có chỉ số cân nặng của cơ thể lớn hơn 30 (IMC >30) , nguy cơ xuất hiện bệnh tiểu đường tăng gấp 10 lần so với ngưòi có cân nặng bình thường, nhất là những người mập vùng bụng (androide).

2- Yếu tố di truyền: nếu cha hoặc mẹ bị tiểu đường, nguy cơ xuất hiện bệnh tăng gấp 2.

3- Tuổi: càng về già càng dể bị bệnh tiểu đường. Bệnh tiểu đường type 2 thường xuất hiện sau 40 tuổi.

4- Mang thai: Khoảng 3% phụ nữ mang thai bị bệnh tiểu đường, thường xuất hiện vào tuần thứ 24 cuả thai kỳ. Bệnh sẽ hết sau khi sinh, tuy nhiên sự kiện nầy cho biết người mẹ có nhiều nguy cơ bị bệnh tiểu đường sau nầy. Sinh con nặng hơn 4 kg cũng cho biết sản phụ dể bị bệnh tiểu đường sau nầy.

5- Hội chứng biến dưỡng: Khái niệm về hội chứng biến dưỡng đã được biết khá lâu. Là tổng hợp một số rối loạn biến dưỡng, những người có hội chứng biến dưỡng có nhiều nguy cơ bị bệnh tiểu đường và biến chứng tim-mạch. =>Click vào đây để xem bài Hội chứng biến dưỡng - Bài viết cuả BS Võ Ngọc Luyện

III-Dịch tể:

Bệnh tiểu đường type 2 được so sánh như một bệnh dịch trên toàn thế giới (épidémie) gắng liền với các thay đổi về lối sống và sự sống thọ của con người.

Theo Tổ Chức Y tế thế giới (OMS) có 30 triệu bệnh nhân vào năm 1985, con số nầy tăng lên 135 triệu vào năm 1995 và lên đến 195 triệu năm 2003 trong đó 2/3 là bệnh nhân ở những quốc gia trên đà phát triển.

Cũng theo Tổ Chức Y tế thế giới, hiện nay khu vực Đông Nam Á có tốc độ bệnh tiểu đường type 2 tăng nhanh nhất thế giới, vượt xa châu Âu nơi vốn được xem là ổ bệnh. Và theo nguồn Diabetes Atlas 2003. hiện 3% dân só VN bị bệnh tiểu đường (15-25% dân số trên 50 tuổi ?).

Nguyên nhân của sự gia tăng nầy là vì chế độ dinh dưỡng truyền thống từ lúa gạo, rau, quả đang dần thay đổi qua dinh dưỡng lối tây phương giàu chất béo và đường, lối sống càng ngày càng thiếu vận động, luyện tập cơ thể. Đáng lo ngại là sự gia tăng nhanh chóng bênh béo phì ở trẻ em cho phép dự đoán tiềm năng phát triển bệnh nhanh trong tương lai.

Bệnh có thể dẫn tới mù loà, tổn thương bàn chân, hệ thần kinh, hệ tim mạch, suy thận. Đây là những biến chứng nghiêm trọng, có thể gây tàn phế, tử vong, và để duy trì sự sống, bệnh nhân phải giải phẩu, ghép thận hoặc phải chạy thận nhân tạo định kỳ rất tốn kém.

Tuy nhiên bệnh nhân bị tiểu đường có thể duy trì lâu dài cuộc sống bình thường nếu bệnh được phát hiện sớm và điều trị hợp lí.

IV- Triệu chứng lâm sàng và chẩn đoán bệnh:

Một trong những đặc điễm cuả bệnh tiểu đường type 2 là phát triển một cách thầm lặng. Trong giai đoạn đầu kháng insuline của bệnh, lượng insuline còn đủ để kiểm soát lượng đường máu trong thời gian khá lâu (5-10 năm) vì vậy bệnh nhân không cảm thấy có triệu chứng gì và không biết là mình bị bệnh. Nhưng khi bệnh tiến triển qua giai đoạn thiếu insuline, bệnh nhân có thể có những triệu chứng sau đây: khát nhiều, tiểu nhiều, suy yếu, gầy ốm nhanh chóng. Trước bệnh cảnh nầy, cần phải tư vấn BS và đo lượng đường máu là xét nghiệm quan trọng nhất.

Một số trường hợp khác, bệnh tiểu đường chỉ được phát hiện vào những dịp tư vấn BS vì những bệnh khác: nhiễm trùng đường tiểu, mụn nhọt (furoncles), bệnh nấm (mycoses), vết thương lâu lành...

Đôi khi bệnh chỉ được phát hiện khi đã có biến chứng như rối loạn nhãn quang, suy yếu tình dục, bệnh tim mạch, rối loạn tri giác...

Chẩn đoán bệnh: Tiêu chuẩn định bệnh dựa vào xét nghiệm máu và theo OMS: coi như bị bệnh tiểu đường nếu có 2 lượng đường máu cao hơn 1,20 mg/dL (7 mmol/ lít) ở bệnh nhân nhịn ăn 8 giờ.

V-Sinh ly bệnh:

Bệnh tiểu đường type 2 có liên quan mật thiết sự dinh dưỡng (ăn uống quá độ và nhiều đường, mỡ) và lối sống hàng ngày ( nhàn rỗi, thiếu vận đông). Bệnh cũng có tính di truyền tuy nhiên ít rõ hơn bệnh tiểu đường type 1.

Không nên nhầm lẫn bệnh tiểu đường type 2 với các bệnh tiểu đường thứ phát trong các bệnh hémochromatose hoặc do dùng lâu ngày một số thuốc (như các thuốc thuộc loại stéroides).

Bệnh tiểu đường type 2 tiến triển qua 2 giai đoạn: giai đoạn đầu, hiện tượng kháng insuline giữ vai trò quan trọng. Tuyến tụy tạng điều tiết bình thường tuy nhiên các tế bào ít nhạy cảm với insuline, không đưa được glucose từ máu vào nội bào và đường máu có khuynh hướng tăng cao. Đường máu cao kích thích tụy tạng gia tăng tiết insuline để duy trì lượng đường máu ở mức bình thường. Sau một thời gian làm việc quá độ (5-10 năm) tuyến tụy tạng trở nên suy yếu, tiết insuline càng ngày càng ít và không cung cấp đủ insuline để đáp ứng nhu cầu.

VI- Thuốc trị bệnh tiểu đường:

Thuốc uống: gồm có 5 nhóm chính:

1- Biguanides: tác dụng chống lại sự đối kháng insuline và giảm sản xuất glucose ở gan.

2- Sulfamides giảm đường máu: tác dụng bằng cách kích thích tụy tạng tiết thêm insuline (insulinosécréteurs).

3- Glinides: cũng là thuốc kích thích sản xuất insuline (insulinosécréteurs).

4- Inhibiteurs des alpha-glucosidases là những thuốc giảm hấp thụ đường (glucides complexes).

5- Thiazolidinediones (còn goi là glitazones) tác dụng gia tăng nhạy cảm với insuline và gia tăng sản xuất insuline.

Thuốc tiêm = Insuline:

Bệnh tiểu đường type 2 có thể cần insuline trong một giai đoạn ngắn như trường hợp bệnh tiểu đường ở phụ nữ có thai, tiểu đường ở giai đoạn nhiễm trùng.

Hoặc trở nên cần thiết cho điều trị lâu dài, nếu thuốc uống không thể cân bằng đường máu, dùng insuline kết hợp với thuốc uống.

Hiện nay khuynh hướng dùng insuline càng ngày càng mở rộng.

Thuốc mới = incrétines và incrétino-mimétiques:

Incrétines là một kích thích tố GLP1 (Glucagon-Like Peptide 1), tiết từ những tế bào đoạn đầu của ruột non do thực phẩm khi ăn kích thích. Incrétines có tác dụng kích thích sản xuất insuline, giảm sản xuất glucose ở gan, giữ thực phẩm nằm lâu ở dạ dày nên làm giảm cảm giác đói. Tuy nhiên incrétines bị biến dưỡng quá nhanh nên không thể trực tiếp dùng trong điều trị mà chỉ giúp để chế tạo ra 2 nhóm thuốc mới:

-incrétino-mimétiques còn gọi analogues du GLP-1: có tác dụng chống men DPP-4 (emzyme), do đó giúp giữ thăng bằng đường máu và tốt cho bệnh nhân tiểu đường mập.

-inhibiteurs de DPP-4 : tác dụng gia tăng thời gian tác dụng của GLP-1 bằng cách làm chậm sự thoái biến của men nầy.

VII- Điều trị bệnh tiểu đường type 2 ở bệnh nhân mập (obésité):

Cần phải kết hợp 3 phương pháp: dinh dưỡng, thể thao thể dục và chỉ trong trường hợp thất bại của 2 phương pháp trên mới kết hợp với dùng thuốc.

Mục đích của điều trị là tránh hoặc trì hoãn lâu dài sự xuất hiện các biến chứng do tiến triển mãn tính của bệnh, bằng cách duy trì đường máu càng gần càng tốt với đường máu bình thường.

Điều trị càng sớm càng tốt, và tùy theo những đặc biệt từng cá nhân như tuổi, mức độ quá cân, mức độ đường máu, cholestérol máu, mức độ tiến triển của bệnh... mà xác định một chế độ dinh dưỡng cân đối, hoạt động thể thao thể dục thích nghi và dùng thuốc hợp lí.

1-Chế độ dinh dưỡng nghèo calorie:

Đây là biện pháp điều trị quan trọng của bệnh tiểu đường type 2 nặng cân, cho phép làm giảm cân và kiểm soát đường máu.

Tổng số năng lượng cần thiết hàng ngày được qui định tùy theo mỗi cá nhân: tùy theo hoạt động, mức độ quá cân. Dựa vào tổng số năng lượng qui định mà ước tính lượng thực phẩm cần thiết của mổi nhóm để có một chế độ dinh dưỡng cân đối .

Với các đơn vị đo lường  (phần) như sau:

*Một phần nhóm glucides # 1/2 chén cơm, 1 lát bánh mì 1 ounce (30 gr)# 80 calories.

*Một phần trái cây # 1 quả táo # 50 calories.

*Một phần nhóm rau # 1 dĩa đầy rau tươi, # 1/2 chén rau luột = 15 calories.

*Một phần nhóm chất đạm # 30 gr # 60 calories. Tùy theo lượng mỡ trong thịt, 30 gr thịt heo ba chỉ #100 calories.

*Một phần sửa # 1 ly sửa lấy hết chất béo # 60 calories.

*Một phần chất béo # 1 muỗng café dầu bắp # 35 calories.

 Để dể thực hiện kế hoặch ăn giảm cân, thức ăn có thể chia làm 6 nhóm:

*Nhóm glucides (cơm, bún, mì, phở, bánh mì) *Nhóm trái cây *Nhóm rau *Nhóm sửa *Nhóm thịt, cá, trứng (chất đạm) *Nhóm chất béo.

Sau đây là vài ước tính dinh dưỡng tùy theo nhu cầu năng lượng cần thiết cho 1 ngày:


Thức ăn

1200calories/ngày

1500calories/ngày

1800calories/ngày

2000calories/ngày

Nhóm tinh bột

5 phần

7 phần

8 phần

9 phần

Nhóm trái cây

3 phần

3 phần

4 phần

4 phần

Nhóm rau

2 phần

2 phần

3 phần

4 phần

Nhóm sữa

2 phần

2 phần

3 phần

3 phần

Nhóm đạm

4 phần

5 phần

6 phần

7 phần

Nhóm chấtbéo

2 phần

3 phần

3 phần

4 phần

Một cách tổng quát: nên ăn nhiều loại thức ăn khac nhau, hạn chế đường (bánh, kẹo, nước ngọt...), hạn chế muối, ăn nhiều chất xơ (rau, trái cây), ăn ít chất béo nhất là mỡ động vật, tôn trọng giờ giấc 3 bữa ăn chính, thêm 1, 2, 3 bửa ăn dặm.

3-Dùng thuốc (médicaments) ở bệnh tiểu đường type 2 và mập:

-Thuốc uống:

Metformine: Là thuốc uu tiên dùng đầu tiên ở bệnh nhân tiểu đường và mập vì metformine không tăng sản xuất insuline do đó không gây tăng ký và không gây biến chứng thấp đường máu. Thuộc nhóm biguanide, metformine chống cao đường máu bằng cách tăng nhạy cảm của các tế bào gan đối với insuline, làm giảm sản xuất đường ở gan.

Cách dùng: thuốc viên, tối đa 3000mg chia uống 2 - 3 lần /ngày, vào lúc ăn hoặc sau bửa ăn.

GLUCOPHAGE

500mg - 850mg - 1000mg

STAGID

700mg

Chống chỉ định: Phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú. Suy thận. Suy gan. Suy tim. Nhồi máu cơ tim.

Thận trọng khi dùng thuốc: theo dõi créatinine máu, nhất là ờ người già.Ngừng thuốc 3 ngày trước khi làm X-quang có chất cản quang chứa Iode.

Tác dụng phụ:

*Nhiễm toan lactique, thường xuất hiện ở bệnh nhân già và suy thận, phải ngừng thuốc và thực hiện xét nghiệm ion đồ và đo lường lactate máu ngay nếu bệnh nhân than phiền yếu mệt và bị co giật, cứng đau ở các bắp cơ (crampes musculaires).

*Rối loạn tiêu hoá: ói, mửa, tiêu chảy, đau vùng bụng: nên uống thuốc vào lúc ăn, hoặc sau bửa ăn.

Inhibiteurs de l'alphase-glucidase:

Thường dùng trong trường hợp không dùng được metformine. Nhóm thuốc nầy có tác dụng giảm hấp thụ đường ở ruột, do đó gây giảm đường máu sau các bửa ăn.

Cách dùng: thuốc viên, bắt đầu 50mg trước mỗi bửa ăn. Tối đa 300mg/ ngày.


GLUCOR (Acarbose)

50 - 100mg

DIASTABOL (Miglitol)

50 - 100mg


Chống chỉ định: Bệnh đường tiêu hoá.

Tác dụng phụ: cảm thấy nặng bụng, phân lõng hoặc có thể tiêu chảy. Đôi khi gây tăng transaminases.

Glitazones:

Nhóm thuồc nầy có tác dụng gia tăng nhạy cảm với insuline ở các cơ (muscles) và mô mỡ (tissu adipeux).

Cách dùng Thuốc viên, uống 1 lần trong ngày, trước bửa ăn. Không bao giờ dùng một mình, chỉ dùng kết hợp với metformine hoặc với nhóm inhibiteurs de l'alphase-glucidase khi các thuốc nầy đã dùng liều tối đa mà vẫn không hạ đường máu xuống mức độ mong muốn.


ACTOS: viên 15mg - 30mg

1 hoặc 2 viên/ mỗi ngày

AVADIA: viên 2 - 4 - 8mg

8mg tối đa/ mỗi ngày


Chống chỉ định: Suy thận. Suy gan. Suy tim. Bệnh nhân dưới 18 tuổi. Phụ nữ mang thai hoặc trong giai đoạn nuôi con bằng sửa mẹ.

Phản ứng phụ: Lên cân. Giữ mước và muối trong cơ thể nhất là ở bệnh nhân suy thận.

b-Thuốc tiêm-Insulines:

Dưới dạng dung dich, mỗi 1 ml chứa 100 UI, được phân biệt tùy theo nguồn gốc (người, bò, heo) và theo thời gian tác dụng (rất nhanh, nhanh, trung bình, chậm), chứa trong lọ (flacon), hoặc cây viết (stylo, pen). Insuline dung dịch chứa trong lọ, loại tác dụng rất nhanh và nhanh có thể tiêm bắp, tĩnh mạch hoặc dưới da, loại tác dụng chậm thường chỉ tiêm dưới da. Insuline trong các cây viết dùng để tiêm dưới da.

Một số cẩn thận cần thiết khi dùng insuline: ngoài việc thận trọng về liều lượng, tôn trọng giờ giất lúc tiêm, bảo quản nơi lạnh, nên chú ý thay đổi chổ tiêm mỗi lần trên những vùng theo sơ đồ (nếu không sẽ đễ lại những vết teo thiếu thẫm mỹ).

Vài insuline thường dùng:

Insuline rất nhanh (ultrarapides):


HUMALOG - Insuline gốc người. Tiêm bắp, tĩnh mạch, dưói da

Lọ 10 ml - 100 UI/ ml

Bắt đầu tác dụng 10 phút sau khi tiêm. Thời gian tác dụng=3 - 4 giờ.

HUMALOG Pen - Insuline gốc người

Hộp 5 cây viết (pen) -100UI/ml

Bắt đầu tác dụng 10 phút sau khi tiêm. Thời gian tác dụng=3 - 4 giờ.


NOVORAPID - Insuline gốc người. Tiêm bắp, tĩnh mạch, dưói da

Lọ 10 ml - 100 UI/ ml

Bắt đầu tác dụng 10 phút sau khi tiêm. Thời gian tác dụng=3 - 4 giờ.

NOVORAPID Flexpen

NOVORAPID Penfill

Hộp 5 cây viết (pen) -100UI/ml

Bắt đầu tác dụng 10 phút sau khi tiêm. Thời gian tác dụng=3


Insulines nhanh (rapides):


ACTRAPID, gốc người, tiêm bắp, tĩnh mạch, dưới da

Lọ 10 ml - 100 UI/ ml

Tiêm 20 phút trưóc bửa ăn, tác dụng trong 6 - 8 giờ.

ACTRAPID Penfill

viết (pen) -100UI/ml

Tiêm 20 phút trưóc bửa ăn, tác dụng trong 6 - 8 giờ.


UMULINE RAPIDE

Lọ 10 ml - 100 UI/ ml

Tiêm 20 phút trưóc bửa ăn, tác dụng trong 6 - 8 giờ.

HUMAPEN

viết (pen) -100UI/ml

Tiêm 20 phút trưóc bửa ăn, tác dụng trong 6 - 8 giờ.


Insuline thời gian tác dụng trung bình:


INSULATARD, gốc biogénétique, tiêm dưới da 1 hoặc 2 lần/ ngày

Lọ 10 ml - 100 UI/ ml

Tác dụng 1,5 giờ sau khi tiêm, trong vòng 24 giờ.

INSULATARD Flexpen

viết (pen) -100UI/ml

Tác dụng 1,5 giờ sau khi tiêm, trong vòng 24 giờ.


Insulines chậm:


LANTUS, gốc biogénétique, tiêm dưới da 1 lần/ ngày

Lọ 10 ml - 100 UI/ ml

Tác dụng 1,5 giờ sau khi tiêm, trong vòng 24 - 36 giờ.

LANTUS Optiset

viết (pen) -100UI/ml

Tác dụng 1,5 giờ sau khi tiêm, trong vòng 24 - 36 giờ.

 

2-Họat động thể dục (exercice physique):

Nguyên tắc là điều độ, từ từ tăng về cường độ và thời gian. Đi bộ nhanh là phương pháp dễ thực hành nhất. Xe đạp hoặc bơi lội cũng là phương pháp tốt. Tập ít nhất 3 lần trong tuần, mỗi lần khoảng 30 phút. Thời gian được tính từ lúc nhịp tim đạt tới mức cần thiết (60% của 220-tuổi). Từ từ đạt đến tập luyện thường xuyên hàng ngày là tốt nhất.


Nếu thực hiện tốt: hai phương pháp chế độ dinh dưỡng và hoạt động thể dục đủ để làm xuống cân bệnh nhân và cho phép hạ đường máu xuống mức bình thường ở bệnh nhân tiểu đường type 2 và quá ký. Nếu sau 2-3 tháng thực hành nghiêm túc ăn kiên và thể dục mà bệnh nhân vẫn không ốm, đường máu vẫn cao và chỉ trong trường hợp nầy mới bắt đầu dùng thuốc viên trị tiểu đường.

c-Tiến hành trị liệu:

Bắt đầu điều trị bằng 1 thuốc (monothérapie) với metformine tiến dần đến liều tối đa, sau đó nếu vẫn không kiểm soát được bệnh thì:* thêm thuốc thứ 2 (bithérapie) với inhibiteurs de l'alpha-glucosidase,* hoặc ngừng metformine, đổi qua inhibiteurs de l'alpha-glucosidase (monothérapie). Nếu vẫn không kiểm soát được bệnh thì dùng 3 thuốc (trithérapie): metformine + inhibiteurs de l'alpha-glucosidase + glitazones.

Chỉ định dùng insuline trong điều trị bệnh tiểu đường type 2 (quá cân hoặc cân bình thường):

1- Cần thêm insuline vào buổi tối (loại tác dụng trung bình hoặc chậm), nếu:

*Vẫn không kiễm soát được đường máu với 2 hoặc 3 thuốc uống với liều tối đa. Sau 2 xét nghiệm đường máu hémoglobine glyquée (HbA1c) > 7% (xét nghiệm mỗi 3 tháng).

*Bệnh đã tiến triển hơn 2 năm.

*Xuất hiện biến chứng ở mạch máu nhỏ (microangiopathie): thường phải dùng insuline nhiều lần trong ngày để kiễm soát tốt đường máu.

2- Dùng insuline nhiều lần trong ngày, kết hợp với thuốc uống nếu insuline buổi tối (kết hợp với thuốc uống) vẫn làm không hạ đường máu.

3- Dùng đơn thuần insuline, nhiều lần trong ngày với liều cần thiết nếu có nguy cơ tiến triển qua nhiễm toan xêtôn, với xuất hiện các triệu chứng như:

-Gầy ốm nhanh chóng.

-Mất cơ (fonte musculaire).

-Xêtôn trong nưóc tiểu.

VIII- Điều trị bệnh tiểu đường type 2 ở bệnh nhân cân nặng bình thường (IMC<25 kg/m2):

Thưòng thấy ở bệnh nhân dưói 50 tuổi, có tiền căn gia đình về tiểu đường, thường đã tiến triển hơn 5 năm khi bệnh được phát hiên, tuyến tụy tạng suy yếu không bài tiết đủ cho nhu cầu.

 

1- Chế độ dinh dưỡng:Nguyên tắc tổng quát của chế độ dinh dưỡng với bệnh nhân có cân nặng bình thường là dinh  dưỡng với lượng calories bình thường, phù hợp với hoạt động của bệnh nhân, tôn trọng tỷ lệ các thành phần thực phẩm: nhóm glucides 50% tổng số năng lượng cần thiết, nhóm chất béo 30%, nhóm chất đạm 20%. Giảm lượng chất béo nguồn gốc động vật và đưòng ngọt từ bánh, kẹo, nước soda, coke... Đường hoá học rất hữu ích cho việc giảm nhu cầu về chất ngọt.

2- Thuốc uống:

Chế độ dinh dưỡng thường không đủ để hạ đường máu và phải bắt đầu ngay thuốc uống kích thích sản xuất insuline dựa vào hai nhóm thuốc: nhóm sulfamides hạ đường huyết và nhóm glizides.

Sau đây là những thuốc thường dùng:

Sulfamides hạ đường máu (sulfamides hypoglycémiants): Hiện nay chỉ còn dùng những sulfamides hạ đường huyết thế hệ thứ 2, có thời gian tác dụng không quá 24 giờ.

Được phân loại dựa vào thời gian tác dụng ngắn, trung bình hoặc lâu:

- Thuốc có thời gian tác dụng ngắn như GlIBINESE.

- Thuốc có thời gian tác dụng trung binh như: DAONIL, GLUTRIL.

- Thuốc có thời gian tác dụng trung lâu như: AMAREL, DIAMICRON, OZIDIA.

Tất cả những sulfamides hạ đường huyết đều thải qua đường thận, vì vậy không được dùng ở bệnh nhân suy thận. Thuốc có thể gây tăng mập khoảng 2 - 3 Kg và nguy cơ gây thấp đường máu (hypoglycémie) nhất là ở người gìà.

Các thuốc DIAMICRON, DAONIL, GlIBINESE, GLUTRIL có độ mạnh giống nhau, liều tối đa là 3 viên/ mỗi ngày, bắt đầu bằng liều nhỏ, tăng lên từ từ, không được vượt quá liều tối đa.

Thuốc có thời gian tác dụng ngắn và trung bình chia uống 3 lần trước các bửa ăn.

Thuốc có thời gian tác dụng lâu uống 1 lần trong ngày, trước bửa ăn sáng, có nhiều nguy cơ gây thấp đường máu (hypoglycémie) so với các sulfamides khác.

Glinides:

Cơ chế tác dụng giống các sulfamides nhưng nhanh hơn, ngắn hạng hơn và không thải qua đường thận nên có thể dùng ở bệnh nhân suy thận. Hiện nay ở Pháp chỉ dùng NOVONORM, uống trước các bửa ăn.

3-Tiến hành trị liệu:

Nếu thuốc sulfamides không đủ để hạ đường máu, kết hợp thêm thuốc hạ đường máu thứ 2 thuộc nhóm khác, ưu tiên dùng metformine. Nếu 2 thuốc (bithérapie) không đủ, kết hợp thuốc thứ 3 thuộc nhóm khác, ưu tiên dùng glitazone hoặc inhibiteurs de l'alpha-gluosidase.

IX- Theo dõi bệnh:

Sau khi định bệnh và tiến hành các phương pháp điều trị, bệnh nhân phải được theo dõi điều đặng:

1- Tái khám bệnh nhân mỗi 3 - 4 tháng để theo dõi sự tiến triển của bệnh:

- Diễn biến về cân nặng và phân phối vùng mập (bụng, mông...).

- Đo huyết áp.

- Nghe tim và bắt mạch, khám xét các động tĩnh mạch.

- Khám xét các phản xạ và cảm giác ở chân và bàn chân.

- Phân tích kết quả xét nghiệm đừờng HbA1c (mỗi 3 tháng). Xét nghiệm nầy cho biết tình trạng đường máu cuả 2 tháng vừa qua, giữa 4% và 6% nếu điều trị có hiệu quả tốt.

2- Mỗi năm một lần:

- Xét nghiệm máu đo lường chát mỡ: cholestérol, HDL, LDL, triglycérides.

- Tìm albumine trong nước tiểu (microalbuminurie).

- Đo lường créatinine máu, tính cléreance cuả créatinine để thẩm định tình trạng chức năng cuả thận.

- Khám nhản quang: Fond d'oeil.

- Bilan tim mạch: điện tâm đồ (ECG).

- Bilan răng hàm.

X- Biến chứng bệnh:

Tiểu đường loại 2 là một bệnh nghiêm trọng, thưòng phát triển thầm lặng trong thời gian lâu trước khi được định bệnh. Biến chứng bệnh có thể là cấp tính hoặc mãn tính, có thể đưa đến tàn phế hoặc tử vong nếu điều trị không hiệu quả do lượng đường máu quá cao và duy trì trong thời gian lâu dài gây tổn thương các mạch máu lớn (macroangiopathie) và các mạch máu nhỏ (microangiopathie) cuả các cơ quan sau:

1- Hệ thống tim mạch:

Nguy cơ bị bệnh tim mạch tăng gấp 3 lần ở bệnh nhân tiểu đường so với người khoẻ mạnh:

-Bệnh động mạch vành tim với các biểu hiện như: cơn đau ngực (angor), nhồi máu cơ tim.

-Tai biến mạch máu não.

-Viêm động mạch cuả 2 chi dưới.

2- Nhãn quang:

Biến chứng tắc nghẽn các mạch máu đưa đến thiếu máu (ischémie) hoặc chảy máu (hémorragie) vùng rétine. Bệnh vùng rétine (rétinopathie) là nguyên nhân chính gây mù mắt hiện nay trên thế giới. Các theo dõi ước lượng sau 15 năm bị bệnh, khoảng 2% bệnh nhân bi mù, 10% bị suy yếu  

3- Hệ thần kinh:

Tổn thương hệ thần kinh (neuropathie) thường do thiếu máu (ischémie).

Neuropathie thường gây tổn thương 2 chi dưới: đau nhức trong cơ, mất cảm giác đau, các vết thương mãn tính ở chân và lòng bàn chân (mal perforant plantaire). Mal perforant plantaire có thể đưa đến cưa chân.

Neuropathie có thể gây tổn thương hệ thần kinh autonome biểu hiện qua các triệu chứng: tiêu chảy, đau bụng, rối loạn nhịp tim, huyết áp thấp, suy nhược sinh dục.

4- Tổn thương thận:

Gây bệnh glomérulopathie đưa đến suy thận với biểu hiện như tìm thấy albumine trong nước tiểu, lượng créatinine máu tăng cao. Có thể cần lọc thận nhân tạo hoặc ghép thận khi bị tổn thương trầm trọng.

XI-Thẩmm định tính trầm trọng của bệnh:

Có thể đánh giá độ trầm trọng của bệnh dựa vào sự hiện diện it hoặc nhiều các yếu tố sau:

-Tiền căn gia đình.

-Tuổi của bệnh nhân lúc xuất hiện bệnh: xuất hiện ở tuổi càng trẻ, càng trầm trọng.

-Quá cân (obésité).

-Hút thuốc (tabagisme).

-Hiện diện biến chứng vi mạch (microangiopathie): mắt, thận, hệ thần kinh.

-Hiện diện các bệnh mạch máu lớn (macroangiopathie): cao HA, bệnh động mạch vành tim (coronaropathie), viêm động mạch (arterite).

-Hiện diện các triệu chứng tiến triển của bệnh như: gầy ốm nhanh (amaigrissement recent).

-Đường máu thường cao > 2g/ lít.

XII- Thay lời kết luận:

Từ khi tìm ra insuline (1922) đến nay, điều trị bệnh tiểu đường đã tiến triển vượt bực. Hiện nay bệnh nhân có thể tiếp tục cuộc sống gần như bình thường với điều kiện đạt được sự thăng bằng cuả đường máu qua sự ăn uống, hoạt động và điều trị thuốc phù hợp với tình trạng bệnh và hoàn cảnh từng cá nhân.

Trong những năm vừa qua, điều trị và theo dõi bệnh tiểu đường type 2 nhấn mạnh tầm quan trọng phải nhanh chóng đạt được sự cân bằng đường máu và vai trò ưu tiên nổi bật cuả thuốc metformine. Ta cũng có thể nhận thấy các phát đồ điều trị của các chuyên gia thế giới càng ngày càng tiến gần nhau, khuyến khích dùng 2 thuốc (bithérapie), 3 thuốc (trithérapie) cũng như sớm phối hợp với insuline khi cần thiết.

                 

                                                         Ngày 15 - 5 - 2009, BS Nguyễn văn Bích


          Mọi trích, dịch xin ghi tên tác giả và nguồn: www.dieu-tri-noi-khoa.synthasite.com

        ------------------------------------------------------------------------------------------------

2 cas cliniques:

VietNamNet- 28/04/2007:

(VietNamNet) - Người mắc bệnh tiểu đường khó nhận biết mình đã mắc bệnh. Tuy nhiên, có thể dựa vào triệu chứng ban đầu: Uống nước rất nhiều, uống bao nhiêu vẫn khát...

Cách đây khoảng hai tháng, bà Nguyễn Thị Nhen, sinh năm 1946, quê Lai Vung – Đồng Tháp, tình cờ bị bị quẹt trúng lưỡi cưa. Vết cứa chỉ trầy nhẹ rướm máu. Tưởng không sao, thế nhưng khi đi khám tại BV Sa Đéc, vết thương của bà Nhen "trở chứng. Nó không lành mà ngày càng bị hoại tử. 

Sau đó, bà Nhen được chuyển lên bệnh viện Chợ Rẫy. Tại đây, bà mới được các bác sĩ cho biết bà đã mắc bệnh đái tháo đường. Do vết thương đã bị hoại tử nhiều, các bác sĩ buộc lòng phải cưa chân của bà Nhen để bảo toàn tính mạng cho bà.

Tiểu đường: Môi trường của nhiều bệnh tật

Một trường hợp khác may mắn hơn không bị đoạn chi như bà Nhen là bệnh nhân Lê Thị Sáu, ở Hoà Long, Thuận An - Bình Dương, mắc bệnh đái tháo đường cách đây 5-6 năm ở tuổi 60.

Trước khi phát bệnh, bà bắt đầu uống nhiều nước, đi tiểu nhiều lần trong đêm. Sau đó, mắt bị mờ đi nhanh chóng.

Theo người nhà của bà Sáu, hàng ngày việc khó nhất là giữ gìn cho chân tay không bị trầy xước.

Tuy nhiên, bệnh tiểu đường tạo điều kiện để nhiều loại bệnh tật khác bùng phát trong cơ thể, mà không biết trước được bệnh gì. Hiện nay, bà Sáu đang điều trị một căn bệnh về não do tiểu đường tại khoa Nội tiết – BV Chợ Rẫy.

Bệnh tiểu đường: Khó phát hiện

Từ hàng ngàn năm trước Công nguyên, bệnh tiểu đường đã được mô tả trong các tài liệu y học cổ đại phương Đông và phương Tây. Hiện nay, số người mắc căn bệnh này đang tăng dần theo thời gian.

'Phần đông, bệnh nhân vô tình phát hiện bị tiểu đường thường do đến bệnh viện vì một bệnh khác. Hoặc người bệnh chỉ biết mình bị bệnh tiểu đường khi có những biến chứng trực tiếp liên quan đến tiểu đường, như: mờ mắt, lao phổi hay viêm phổi, loét chân lâu lành..',BS Tuyết Hoa cho biết.Cũng theo BS. Tuyết Hoa, triệu chứng ban đầu có thể nhận biết được bệnh tiểu đường: uống nước rất nhiều, uống bao nhiêu vẫn khát. Người bị bệnh tiểu đường có thể đi tiểu nhiều lần cả ngày và đêm. Ngoài ra, người bệnh ăn nhiều, và thèm đồ ăn ngọt.

Điều trị tiểu đường: Ăn uống là quan trọng

BS Tuyết Hoa nhấn mạnh, đối với người bệnh tiểu đường, không chỉ đơn thuần là cho thuốc uống như điều trị bệnh cảm. Điều quan trọng nhất là ăn uống - uống thuốc - tập thể dục phải hài hòa để đường trong máu của bệnh nhân ổn định.

'Bác sĩ phải kết hợp với bệnh nhân tiểu đường trong 3 việc này để các biến chứng của bệnh xuất hiện trễ hơn. Ở Mỹ, biến chứng của người bệnh tiểu đường xuất hiện sau khi khởi bệnh 10 năm, trong khi ở Việt Nam, thời gian đó chỉ bằng một nửa' , BS Hoa lo ngại.

Bệnh tiểu đường ở người mẹ và thai nhi:

 

 

 

  Bé Akbar Risuddin dài 62 cm, nặng 8,7 kg

Theo AP ngày 25/9/09, bé Akbar Risuddin ra đời ở tỉnh North Sumatra, Indonosia bằng phương pháp sinh mổ và dài 62 cm, nặng 8,7 kg. Ca mổ khó khăn này mất 40 phút nhưng hiện tại sức khỏe của bà mẹ và em bé đều ổn định, bác sĩ Binsar Sitanggang cho biết hôm qua. ''Thằng bé rất ham ăn và bú gần như không ngừng'', Sitanggang nói.

Kích cỡ lớn bất thường của cậu bé có thể là hệ quả của bệnh tiểu đường khi người mẹ 41 tuổi mang thai. Căn bệnh tiểu đường ở bà bầu khiến cho hàm lượng glucose tăng cao, và bào thai có thể hấp thụ quá nhiều đường, nên lớn quá nhanh.

Theo kỷ lục Guinness, em bé sơ sinh nặng nhất sinh năm 1879 tại Mỹ với cân nặng 10,4 kg. Tuy nhiên, bé qua đời chỉ 11 giờ sau khi sinh. Kỷ lục này cũng ghi nhận hai bé nặng 10,2 kg chào đời tại Italy năm 1955 và tại nam Phi năm 1982.

35- 50% bệnh nhân bị tiểu đường ở Việt Nam bị biến chứng loét lâu lành dẫn đến bị đoạn chi; từ cắt ngón, cắt nửa bàn chân đến cắt giữa cẳng chân hay do hoại tử rộng nên bị cắt đến nửa đùi. Tính riêng BV Chợ Rẫy, trong năm 2002, toàn bộ đoạn chi của bệnh nhân tiểu đường chiếm 38% các trường hợp phải đoạn chi.

Trước đây, mỗi khi bị bệnh tiểu đường, các thầy thuốc và thân nhân bệnh nhân khuyên bệnh nhân phải ăn kiêng tuyệt đối. Thậm chí các loại thức ăn bổ dưỡng như sữa, trứng cũng bị cấm. Tình trạng đói thường xuyên của cơ thể sẽ làm rối loạn các chuyển hoá trong người bệnh và bệnh nhân không đủ thể lực để đề kháng lại bệnh.

BS. Lê Thiện Anh Tuấn, chuyên khoa Nội, Hội Y học TP.HCM nói rằng, nhiều bệnh nhân rất sợ uống sữa vì sợ mập. Nhưng theo ông, mập hay ốm còn tuỳ theo cơ địa và gien của từng người.

Đối với các bệnh nhân tiểu đường đang điều trị tại bệnh viện, các bác sĩ còn khuyến khích bệnh nhân ăn nhiều. Đặc biệt, tuy hạn chế các loại trái cây nhiều đường như sầu riêng, mít, bệnh nhân vẫn có thể ăn trái cây như cam, bưởi, chuối…Thậm chí có những loại trái cây, người bệnh cũng có thể ăn rộng rãi như người bình thường: ổi, cóc, mận…

BS. Tuyết Mai nhận xét, đa phần người bệnh không thích ăn rau. Một phần, khi có biến chứng do tiểu đường như tiêu chảy, người bệnh cảm thấy khó chịu trong ruột, nên rất kiêng ăn rau. Nhưng trong khẩu phần ăn hàng ngày, đối với người bệnh ăn càng nhiều càng tốt các loại rau cà dưa cải.

(Hương Cát)

___________________________________________

28/06/2009: nhandan.com.vn:  VN khoảng 5% dân số mắc bệnh đái tháo đường.

NDĐT - Theo PGS, TS Tạ Văn Bình, Giám đốc bệnh viện Nội tiết Trung ương, Viện trưởng Viện trưởng Viện nghiên cứu chiến lược phòng chống đái tháo đuờng và rối loạn chuyển hóa quốc gia, cả nuớc hiện có hơn 4,5 triệu người (chiếm khoảng 5% dân số) mắc bệnh đái tháo đường.

Ở các thành phố lớn, khu công nghiệp, dịch vụ tập trung tỷ lệ người mắc bệnh cao  đến 10%. Riêng  thành phố Hồ Chí Minh số người mắc bệnh là hơn 800.000 người. Điều đáng quan tâm là hiện nay, khu vực miền núi, vùng nông thôn tỷ lệ người mắc bệnh đuợc phát hiện cũng tăng nhanh. (2,1% dân số ở vùng núi và 2,7% ở vùng đồng bằng). Một thực tế đáng lo ngại nữa là số người mắc bệnh trong độ tuổi dưới 30 ngày càng tăng.

Việt Nam có tỷ lệ người trẻ mắc bệnh đái tháo đường nhanh nhất thế giới

 Ngày 26-7-2009, nhandan.com.vn:
 
Việt Nam có tỷ lệ trẻ hóa người mắc bệnh đái tháo đường được được xếp loại nhanh nhất thế giới:
Đến nay Tổ chức Y tế thế giới đã xếp đái tháo đường là bệnh không lây quan trọng nhất trên thế giới với gần 250 triệu người mắc. Nó là nguồn gốc của rất nhiều bệnh khác: tim mạch, thận, thần kinh… Tại nước ta, đến năm 2008 ước tính có khoảng 4,5 triệu người (tương đương 5,7% số dân) mắc bệnh đái tháo đường. Đáng chú ý, khoảng 36,6% số dân trong cả nước nằm trong nhóm có nguy cơ mắc bệnh; hơn 50% số người khi biết mình mắc bệnh thì đã có những biến chứng, làm cho quá trình điều trị khó khăn và tốn kém hơn rất nhiều… đặc biệt, độ tuổi của người mắc bệnh đái tháo đường đang được trẻ hóa, số người dưới 30 tuổi mắc bệnh ngày càng gia tăng, thậm chí có những trẻ dưới 10 tuổi cũng bị mắc bệnh. Việt Nam có tỷ lệ trẻ hóa người mắc bệnh đái tháo đường được được xếp loại nhanh nhất thế giới.

 

 Mọi trích, dịch xin ghi tên tác giả và nguồn: www.dieu-tri-noi-khoa.com

click for a free hit counter
get a free hit counter
Make a Free Website with Yola.