
XỬ TRÍ CẮP CỨU TAI BIẾN NHIỄM SIDA (NHIỄM HIV)
POST EXPOSURE PROPHYLAXIS AFTER HIV EXPOSURE
CONDUITE A TENIR APRES EXPOSITION AU SANG ET RAPPORT SEXUEL
----------------------------------------------------------------------------------------
I- TỔNG QUÁT:
Nhiều siêu vi thuộc nhóm rétrovirus là tác nhân của bệnh Sida, mỗi siêu vi gây bệnh cho mỗi loài sinh vật đặc biệt. HIV là siêu vi được biết nhiều nhất vì gây bệnh Sida ở loài người. Chúng ta có thể kể SIV là siêu vi gây bệnh ở loài khỉ, FIV gây bệnh ở mèo.
Có 3 cách truyền bệnh khác nhau:
-
Truyền bệnh qua quan hệ tình dục: dây là cách truyền bệnh chính yếu.
-
Truyền bệnh qua đường máu: trường hợp ở những người dùng ma túy qua đường tiêm, bệnh nhân được truyền máu, tai biến ở nhân viên cán bộ y tế (do kim chích khi săn sóc bệnh nhân, vết cắt khi phẩu thuật..).
-
Truyền bệnh từ mẹ qua con: trong những tuần cuối của thai kỳ, khi sinh đẻ, thời kỳ cho bú sữa.
Bệnh sida đã trở thành đại dịch từ cuối thập niên 1970. Phương pháp phòng chống chính yếu hiện nay vẫn dựa vào dùng bao cao su ví chưa có vaccin hữa hiệu và những thuốc chống siêu vi hiện có không cho phép trị lành bệnh mà chỉ cho phép làm chậm tiến triển bệnh. Hơn nữa, vì thuốc còn quá đắc nên thường chỉ những quốc gia ''phát triển'' mới có đủ phương tiện tài chánh để bao chi các phí tổn, các thống kê cho biết hơn 95% bệnh nhân ở các quốc gia ''trên đường phát tiển'' không có trị liệu đúng tiêu chuẩn (UNISIDA).
Bài nầy chỉ giới hạn đề cập đến các tai biến nhiễm siêu vi HIV và các điều trị khẩn cấp thích ứng. Đây là tai biến rất thường xãy ra ở các nhân viên cán bộ y tế trong khi hành nghề phục vụ bệnh nhân, tuy nhiên cũng có thể xãy ra cho những ngưói ngoài ngành y tế. Được điều trị càng sớm, hiệu quả càng tốt, do đó điều trị cấp cứu đóng vai trò rất quan trọng.
A- SINH LÝ BỆNH:

B- MỨC ĐỘ NGUY CƠ LÂY NHIỄM THEO CÁCH TIẾP XÚC:
1- Qua đường sinh dục:
-
Âm đạo: 0.05 – 0.15%
-
Hậu môn: 0.8 – 3.2%
-
Nam – nữ > Nữ – nam
-
Có vết thương ở bộ phận sinh dục hay không
-
Siêu vi HIV trong máu cao hay thấp (tùy thuộc giai đoạn tiến triển của bệnh nhân)
2- Do kim chích vì tai biến: 0.32%
3- Trao đổi ống chích: 3%
4- Mẹ – con: 15 – 40%:
-
Nếu mẹ đang dùng thuốc AZT: 5 – 8%
-
Nếu mẹ đang dùng phối hợp 3 thuốc theo phát đồ (trithérapie): < 1% ?
5- Tiếp xúc với niêm mạc: 0.2 – 0.5%
6- Truyền máu: > 90%
C- MỨC ĐỘ NGUY CƠ LÂY NHIỄM TÙY THEO TIẾP XÚC VỚI NHÓM NGƯỜI NGUỒN:
-
Nhóm người xì ke, ma túy dùng thuốc tiêm tĩnh mạch: 17%
-
Nhóm đồng tình luyến ái: 13%
-
Những người nhiều bạn tình, nhiều quan hệ tình ái.
-
Tù nhân: 1- 5%
D- CHUYỄN BIẾN HUYẾT THANH SAU KHI BỊ LÂY NHIỄM

E- BIỂU HIỆN LÂM SÀNG (Primo-infection):
1- Phát hiện sau khoảng 1 tuần đến 12 tuần sau khi nhiễm siêu vi HIV lần đầu:
* Thường sau 10 ngày đến 3 tuần
2- Khoảng 35- 95% có triệu chứng lâm sàng (trung bình 50%):
-
Sốt: 80 – 95%
-
Nỗi mận trên da (maculo-papulaire): 50 – 70%
-
Đau nhức ở khớp xương và bắp thịt: 55%
-
Đau sưng cổ họng: 45 – 75%
-
Nổi hạch: 40 – 75%
-
Vết loét ở miệng +/- cơ quan sinh dục: 30%
-
Sưng màng não, viêm dây thần kinh (mononévrite), Guilain Barré: 10%
F- ĐỊNH BỆNH VÀ ĐIỀU TRỊ SỚM:
1- Định bệnh: dựa vào xét nghiệm kháng nguyên P24 dương tính
2- Cần phải được tái xác nhận bằng xét nghiệm Western Blot và đo lượng virus trong máu (virémie)
3- Thận trọng: những xét nghiệm huyết thanh tìm bệnh có thể âm tính trong những tuần đầu.
4- Trị liệu sớm bằng phối hợp 3 thuốc (trithérapie) có thể thực hiện tùy trường hợp (xem phát đồ điều trị).
G- DƯỢC LIỆU: Chủ yếu thuộc 2 nhóm thuốc: Inhibiteurs de la reverse transcriptase (RTI) có tác dụng ngăn cản men cho phép tổng hợp ADN từ ARN của siêu vi HIV trước khi ARN nầy nhập vào ADN của tế bào bệnh, bao gồm: les nucléosidiques (NRTI), les non-nucléosidiques (NNRTI).
Và nhóm antiprotéases.
Trị liệu 3 thuốc (trithérapie) hiện nay là sự phối hợp 2 thuốc thuộc NRTI và thuốc thứ 3 thuộc NNRTI hoặc thuộc nhóm antiprotéases.

Inhibiteurs de la reverse transcriptase (RTI) :
|
Tên hoá chất |
AZT |
Lamivudine |
ddl |
d4t |
Abacavir |
Efavirenz |
|
Tên thương mại |
Retrovir |
3TC |
Videx |
Zérit |
Ziagen |
Stocrin |
|
Liều/ngày |
250 mg x2 1 viên/x 2 |
150 mg x 2 1 viên x 2 |
200 mg x 2 hoặc300 mg uống bụng đói |
40 mg x 2 1 viên x 2 |
300 mg x 2 |
300 mg x 3 uống1 lần |
|
Tác dụng phụ |
Đau đầu, đau cơ, ói mữa, thiếu máu, hạ bạch cầu |
Đau đầu, ói mữa, viêm gan, hạ bạch cầu |
Viêm tụy tạng, tiêu chảy, hạ bạch cầu, khẩu vị nhàm ớn |
Bệnh trung bạch cầu |
Phản ứng tăng nhạy cảm |
Nổi mận da, rối loạn thần kinh cảm giác |
|
Tổn phí Euros/tháng |
526 € |
472 € |
526 € |
472 € |
|
505 € |
Antiprotéases:
|
Tên hoá chất |
Saquinavir |
Ritonavir |
Indinavir |
Nelfinavir |
Amprénavir |
|
Tên thương mại |
Invirase Fortovase |
Norvir |
Crixivan |
Viracept |
Agénérase |
|
Liều/ngày |
600 mg x 3 3 viên x 3 uống bụng no |
7,5 ml x 2 600 mg x 2 6 viên x 2 |
800 mg x 3 2 viên x 3 uống bụng đói, và 2 lít nước/ngày |
750 mg x 3 3 viên x 3 uống bụng no |
600 mg x 2 4 viên x 2 |
|
Tác dụng phụ |
Hiếm. Ói mữa, đau bụng |
Ói mữa, tiêu chảy, cao mỡ máu, viêm tụy tạng, khẩu vị nhàm ớn |
Sạn thận, tăng bilirubine máu |
Ói mữa, tiêu chảy |
Đau đầu, mận đỏ da, tiêu chảy |
|
Tổn phí Euros/tháng |
650 € |
650 € |
615 € |
724 € |
|
II- TAI BIẾN BỊ LÂY NHIỄM SIDA KHI HÀNH NGHỀ:
1- VÀI SỐ THỐNG KÊ:
567 trường hợp khai báo tai biến ở Thụy Sĩ:
-
335 có vết thương
-
216 có tiếp xúc ở da và niêm mạc
====> 2 trường hợp bị nhiễm siêu vi HIV ( 223 trường hợp trên toàn thế giới)
(Nguồn OFSP, tháng 2/ 1997)
2- CÁC YẾU TỐ TRẦM TRỌNG KHI BỊ TAI BIẾN:
-
Vết thương sâu: 16,1
-
Có máu trên vật dụng gây châm, chích: 5,2
-
Tiêm động mạch, tĩnh mạch: 5,1
-
Bệnh nhân giai đoạn SIDA: 6,4
-
Đang dùng AZT: 0,2 (có tác dụng bảo vệ)
-
Thời gian tiếp xúc, từ lúc bị tai biến đến lúc điều trị.
3- XỬ LÝ TỔNG QUÁT NGAY SAU KHI TAI BIẾN XẢY RA:
a- Vết thương:
-
Rữa vết thương với nước và savon
-
Sát trùng (5 phút) với 1 trong những dung dịch: Dakin, nước Javel 12° pha loãng 10%, Chlorexhidine, Polyvidone iodé.
b- Nếu máu hoặc dịch nhiễm rơi vào mắt: rữa mắt thật nhiều và lâu bằng nước, dịch sinh lý trong vòng 5 phút. Sau đó dùng dung dịch sát trùng chlorexhidine 0.05%, 3-4 giọt mỗi 10 phút.
c- Xét nghiệm:
-
Nạn nhân: sérologie HIV, Ac anti-HBs, Ac anti-HCV
-
Người nguồn gây bệnh: sérologie HIV, Ag anti-HBs, Ac anti-HCV
d- Phòng ngừa khi sinh hoạt tình dục: dùng bao cao su trong vòng 3 tháng.
e- Không hiến máu: trong vòng 6 tháng.
f- Khai báo tai nạn
4- ĐỐI VỚI NGƯỜI GÂY TAI BIẾN (NGUỒN):
a- Nếu bị bệnh, tìm hiểu:
-
Điều trị, theo dõi.
-
Mức độ miễn dịch
-
Lượng vi rút máu (charge virale)
b- Nếu không rõ bị bệnh hay không: đòi hõi sự đồng thuận để làm xét nghiệm:
-
Xét nghiệm huyết thanh HIV (và HBV, HCV)
5- ĐỐI VỚI NẠN NHÂN:
a- Chỉ định điều trị:

b- Nếu người nguồn bi bệnh, HIV(+):
|
|
Người nguồn bị bệnh, HIV(+) |
Người nguồn bị bệnh, HIV(+) |
|
Nhiễm nặng: Bị kim đâm sâu (qua khỏi da) bởi kim tiêm dính máu (đã dùng tiêm tĩnh mạch, tiêm động mạch) |
Charge virale cao |
Giai đoạn không triệu chứng hoặc charge virale thấp |
|
Tiến hành điều trị (PEP) |
Tiến hành điều trị (PEP) | |
|
Nhiễm trung bình: vết cắt qua gant khi giải phẩu, kim đâm cạn có dính máu |
Tiến hành điều trị (PEP) |
Cân nhắc (không bắt buột trị liệu) |
|
Nhiễm ít: da trầy bởi kim may, hoặc kim tiêm nhưng nhỏ (kim tiêm bắp, tiêm dưới da), hoặc vết bẩn dính vào mắt, niêm mạc |
Cân nhắc (không bắt buột trị liệu) |
Cân nhắc (không bắt buột trị liệu) |
PEP: Post Exposure Profilaxis.
c- Nếu không rõ người gây tai nạn bị bệnh hay không:
|
|
Người nguồn không rõ bị bệnh hay không |
Người nguồn không rõ bị bệnh hay không |
|
Nhiễm nặng |
Có yếu tố để nghi ngờ bị bệnh (xem I-C) |
Không có yếu tố để nghi ngờ bị bệnh (xem I-C) |
|
Tiến hành điều trị (PEP) |
Cân nhắc (không bắt buột trị liệu) | |
|
Nhiễm trung bình, Nhiễm ít |
Cân nhắc (không bắt buột trị liệu) |
Cân nhắc (không bắt buột trị liệu) |
d- TRỊ LIỆU PHÒNG BỆNH NGAY SAU KHI TAI BIẾN:
|
|
Trị liệu (trước 72 giờ) Thời gian điều trị= 1 tháng |
Liều lượng |
|
Da lành |
Không trị liệu |
|
|
Niêm mạc, da trầy nhẹ không chảy máu |
Rétrovir (ATZ) + 3TC (3TC) |
2x 250 mg (2x1 viên)/ ngày 2 x150 mg (2x1 viên)/ ngày |
|
Da bị đâm thủng |
Rétrovir (ATZ) +3TC (3TC) +Crixivan, hoặc Viracept |
2x250 mg (2x1 viên)/ngày 2x150 mg (2x1 viên)/ngày 3x800 mg (3x2 viên)/ ngày 3x750 mg (3x3 viên)/ngày |
Ghi chú: ATZ + 3TC có dưới dạng phối hợp trong một viên thuốc = Combivir 2x 1 viên/ ngày.
III- TRỊ LIỆU PHÒNG BỆNH NGAY SAU KHI TAI BIẾN NGOÀI LÝ DO NGHỀ NGHIỆP:

Phòng bệnh là phương pháp hữu hiệu nhất, tuy nhiên khi bị tai biến:
1- Nếu người gây tai nạn bị bệnh HIV (+):
Tiến hành dùng thuốc để phòng bệnh ngay sau các tai biến sau đây:
-
Giao hợp qua âm đạo, hoặc qua hậu môn (kể cả trường hợp vỡ bao cao su bảo vệ).
-
Giao hợp qua đường miệng và có xuất tinh.
-
Trao đổi ống tiêm giữa các xì ke ma túy.
2- Nếu không rõ người gây tai nạn bị bệnh hay không, nhưng có yếu tố nguy cơ bị bệnh:
-
Xí ke, ma túy.
-
Đồng tính luyến ái
-
Nhiều bạn tình, nhiều quan hệ tình ái
===> Có thể (không bắt buột) tiến hành dùng thuốc để phòng bệnh ngay sau tai biến tùy theo mỗi trường hợp.
3- Trường hợp không biết ''người nghi truyền bệnh'' có hoặc không bị bệnh SIDA, không biết HIV (+) hoặc HIV (-) và không có yếu tố nguy cơ:
===> Không cần trị liệu phòng bệnh.
IV- THEO DÕI BỆNH VÀ HUYẾT THANH:

V- KẾT LUẬN:
Tai biến nhiễm siêu vi HIV sau khi tiếp xúc máu hoặc dịch sinh lý cần được điều trị khẩn cấp thích ứng. Đây là tai biến rất thường xãy ra ở các nhân viên cán bộ y tế trong khi hành nghề phục vụ bệnh nhân, tuy nhiên cũng có thể xãy ra cho những ngưói ngoài ngành y tế. Tiến hành điều trị phòng ngừa càng sớm, hiệu quả càng tốt, do đó vai trò của các trung tâm cấp cứu chuyên phòng (CISIH) đóng vai trò rất quan trọng.
Chưa có thuốc chữa lành bệnh SIDA. Post Exposure Prophylaxis (PEP) là phương pháp hữu hiệu nhất cho phép chận đứng nhiễm virut HIV nếu đưọc tiến hành sớm (trước 72 giờ), trước khi virút HIV xâm nhiễm vĩnh viễn trong cơ thể.
Dr Nguyễn Văn Bích, Ngày 06 /01/ 2010
Mọi trích dịch xin ghi tên tác giả và nguồn www.dieu-tri-noi-khoa.com
-------------------------------------------------------------------------------
Réf:
1- Circulaire DGS/DHOS/DRT/DSS/SD6 A n° 2003-165 du 2 avril 2003: «….Si le statut de la personne source reste indéterminé, l'évaluation du risque de transmission repose sur le type
d'exposition, et sur la prévalence théorique de l'infection à VIH dans la population à laquelle la personne source
appartient ou peut appartenir (estimations en France par méthode directe, fin 1997 : dans la population
hétérosexuelle non UDIV 0,1 %, homosexuelle non UDIV 13 % et UDIV 17 %). Ces prévalences sont à
pondérer en fonction des pratiques à risques.
A noter que lorsque le statut de la personne source est connu et séronégatif, il est nécessaire de chercher à obtenir
la date de la dernière sérologie ; si celle-ci est ancienne et au moindre doute, la pratique d'un test rapide est
recommandée.
L'indication du traitement est posée en prenant en compte le bénéfice lié à la possibilité d'une réduction du risque
de transmission du VIH, et le risque d'effets indésirables graves liés au traitement.
Le traitement postexposition doit être réservé aux situations à risque identifiable de transmission du VIH.
Pour les autres situations, la balance entre le bénéfice escompté et le risque iatrogène n'est pas en faveur de la mise en route d'un traitement post-exposition.....»
2- www.sante.public.lu/fr/maladies-traitements/examens/bilans-biologiques/depistage-vih/index.html
3- www.pharmacomedicale.org/Fiche_2115.html
4- HIV/AIDS Bureau - HIV Care Pocket Guide 2006 - Occupational HIV Postexposure Prophylaxis (PEP)". http://hab.hrsa.gov/tools/HIVpocketguide/PktGPEP.htm. Retrieved 2008-03-05